Hôm nay,  

Viện Mồ Côi Escoubet

28/04/202220:43:00(Xem: 3392)

Ký – Tháng Tư Đen


Vu Thi Thanh Mai 1979

 (Viết cho Lưu-Linh Vũ)

 

– Sau cướp biển và bão tố, với một thuyền nhân khi đặt chân đến nước thứ ba là một hồi sinh. Nhưng có thật hồi sinh với tâm tư nguyên vẹn? Ra đi và chia cắt là một vết thương vĩnh viễn.


 

Escoubet là tên một biệt thự cổ nằm bơ vơ giữa những cánh đồng thênh thang miền Nam nước Pháp. Chủ nhà mấy trăm năm trước không thể nào ngờ sẽ có ngày nó biến thành viện mồ côi dành cho trẻ tị nạn không có cha mẹ đi theo. Tôi đến giữa mùa hè, ngày vàng rực hoa hướng dương, rạng rỡ những mới lạ của một văn hóa Tây phương chờ tôi khám phá. Nhưng khi đêm phủ trùm, Escoubet trồi lên giữa nền tinh tú, nhìn càng bơ vơ như đã một mình rơi vào vũ trụ. Bơ vơ. Tôi thường nghĩ đến bơ vơ ở mỗi địa điểm chuyển tiếp. Không phải cô đơn vì bốn chị em tôi luôn bên cạnh nhau. Mà như gốc cây trốc rễ bị gió cuốn tha phương mãi hoài không thể nào bám đất. Chuyển tiếp không ngừng. Tương lai càng hiện rõ thì tôi càng thấy bơ vơ. Có khi tôi liên tưởng đến chú bé hoàng tử của Saint-Exupéry, đi quá xa quá mỏi mệt muốn bỏ lại thân xác để hồn bay về nhà.

 

Đêm đầu tiên thấy chúng tôi lên giường với quần jean áo sơ mi, cô Jocelyne quay lại với ba cái áo đầm ngủ mới tinh còn trong bao, tôi cảm động, muốn tin có thể xem đây là nhà. Chỉ có mẹ mua áo mới cho chị em tôi. Từ khi vượt biên, chưa ai nhìn chúng tôi dịu dàng vậy. Tôi viết thư kể với bố mẹ, ba chị em được một căn phòng xinh xắn vừa đủ kê một chiếc giường đơn và một giường hai tầng; khăn phủ giường có vân xanh lơ điểm hoa đỏ tiệp màu giấy dán tường, còn có phòng tắm nhỏ. Em Long ở bên dãy nam. Viện có sáu éducateurs thay phiên chăm sóc đám trẻ hơn ba mươi đứa. Ba bữa ăn có đầu bếp đến nấu nướng dọn dẹp. Mỗi người được phát một trăm quan tiền túi hàng tháng. Mỗi sáu tháng được chở ra tỉnh mua sắm quần áo mới. Tháng chín tựu trường, chị em tôi sẽ được đi học ở trường làng. Nơi đây còn tốt hơn nội trú ở những trường tư, chúng tôi được chăm lo đầy đủ và sẽ cố gắng học hành. Tôi kể một hơi tất cả những chi tiết lạc quan, mong bức thư chuyển tải âm thanh tôi vui mừng. Chắc mẹ sẽ cho rằng chúng tôi đã được tái sanh vào một thế giới tốt đẹp. Chắc bố mẹ sẽ mãn nguyện với viễn tượng tương lai của chúng tôi. Tôi không nhắc đến viện chỉ chứa chấp trẻ em dưới mười tám tuổi, năm sau tôi sẽ phải một mình ra ngoài và chưa biết sẽ đi về đâu.

 

Tháng tám thời tiết đẹp nhất trong năm. Tôi thích ngắm nhìn bầu trời xanh mênh mông trên cảnh bình dị của đồng quê buổi sớm mai, khi tôi đi qua hành lang nối với tòa nhà bên cạnh để xuống phòng ăn, nắng mang hương cỏ cây hắt lên da. Bữa ăn sáng luôn có bánh mì bơ mứt và một tô sữa tươi. Uống sữa bằng tô thì ngộ nghĩnh nhưng tôi không hỏi. Cô đầu bếp Florence mang chiếc nồi to đến nông trại mua sữa tươi về đun sôi rồi múc ra tô. Tôi khoe trong thư, sữa ở đây nguyên chất và béo ngậy, Sài Gòn không có đâu. Ý là trước 75. Sài Gòn sau 75 không có gì cả. Cô Florence bày thức ăn, tô đĩa và dao trên quầy, ai đến trước đem phân phát mỗi bàn. Phòng bày tám bộ bàn ghế gỗ nâu sẫm, thoáng rộng. Tôi luôn chọn bàn thứ nhì, nhìn ra bãi cỏ xanh bên ngoài qua hai cánh cửa kính lớn, nghe chung quanh tiếng chào hỏi khi mọi người lục tục kéo đến, pha lẫn tiếng cười đùa, uống ngụm sữa nóng, thấy ấm áp trong lòng. Ăn xong, mỗi người đem đồ mình dùng đặt lại trên quầy. Chỉ có xứ văn minh mới nuông chìu trẻ mồ côi như vậy. Khi khám phá ra bình cà phê nóng dành riêng cho người lớn, lòng tôi rạng rỡ biết mấy, quyết chí uống cho bằng được. Tôi xin vào bếp phụ rửa bát. Cô Florence dặn mỗi cái tô tráng nước xong thì đặt ngửa trên khăn, sau khi rửa xong hết mới úp xuống. Cũng ngộ. Úp xong đống tô, tôi xin cô một ít cà phê. Từ đó sáng nào tô sữa của tôi cũng pha chút cà phê, dù chỉ đủ làm nâu đi màu sữa, không đủ đậm để dậy mùi thơm, tôi không đòi hỏi hơn. Ngày hôm qua tôi đã mất tất cả. Giờ, tôi được sống trong sự bảo bọc của những tấm lòng bác ái bao la, ở một ngôi nhà đá di sản của thế kỷ XVIII, học và chơi với một đám trẻ cùng lứa, cùng số phận. Tôi cám ơn Thượng Đế đã đưa tôi đến nơi này, nhưng giá mà Ngài cho phép tôi sống tuổi trẻ và chết già nua ở Sài Gòn của chúng tôi.

 

Đám trẻ không hỏi nhau đến từ đâu, tuy chúng tôi nhận ra sự khác biệt giữa những màu da. Hiểu ngầm đoạn đường mỗi người vừa đi qua không gì hấp dẫn đáng tò mò. Cùng một câu chuyện thôi. Giá đã trả, cơ hội làm người ở xứ tự do đã đến tay, và Escoubet là món quà từ Trời cho những bước đầu tập tễnh. Ba chị em tôi thân với chị Nguyệt Sương nhất, chị trên mười tám nhưng khai rút tuổi, ít biểu hiện nhưng thương mến ai thì mở lòng tràn trề như sông nước Rạch Giá. Chúng tôi đã gặp nhau ở foyer Créteil, một địa điểm chuyển tiếp vùng ngoại ô Paris, trước khi được đưa đi xe lửa năm trăm cây số về Escoubet. Chung chuyến xe lửa còn có chị Hiếu, cũng khai rút tuổi, có giọng Bắc của Bùi Chu Phát Diệm khiến tôi nhớ chị Ba ở nhà. Chúng tôi thường trao đổi những kỷ niệm về Đà Lạt, tiệm bán ô mai của gia đình chị và những ngày hè của gia đình tôi. Chị còn dạy ba chị em tôi đan áo len chuẩn bị cho mùa đông. Em Lan học đan chăm chỉ nhất vì nó sợ lạnh. Về đây, em Long chơi thân với cậu bé trạc tuổi tên Hiển khiến tôi rất mừng. Gia đình có năm anh em trai, Long vượt biên với ba chị gái, cô đơn vương vất trong mắt nó. Trong trại tị nạn Mã Lai, người đàn bà ở lều bên cạnh có lần nói với tôi, “Bác thấy Long ngồi một mình nhìn xa xăm buồn đẵm, bác lại nghĩ thương đứa con trai hồi trước đi vượt biên chắc cũng nhớ nhà như vậy”. May giờ có Hiển và các cậu bé khác. Chị của Hiển mang tất cả mộng mơ của thiếu nữ tuổi mười lăm, mắt ướt môi ướt, tự đổi tên là Ánh Sương vì cho rằng cái tên Mai của cha mẹ đặt không thích hợp với mình. Ánh Sương thân với Oanh, hai cô gái Việt đầu tiên ở Escoubet. Hai người đi cạnh nhau, Oanh cao hơn một cái đầu, gương mặt xinh đẹp lập tức lôi cuốn người đối diện với má lún đồng tiền và chiếc răng khểnh. Oanh nũng nịu như đứa con út được gia đình cưng chìu, thường ôm cánh tay ngả đầu vào vai cô Jocelyne hoặc cô Christine; thời gian đầu chưa quen chắc Oanh lạc lõng khủng khiếp. Tôi còn khá thân với Mỹ Tiên. Hai đứa cùng tuổi và được xem là lớn nhất. Mỹ Tiên nhỏ nhẹ hiền lành, giọng người miền Nam sống ở Chợ Lớn gợi cho tôi nhớ mấy cô bạn trường Bác Ái. Ngoài những trẻ đến từ Việt Nam, Mi phải là người Việt lớn lên ở Lào vì cô nói thông thạo hai thứ tiếng. Thêm nữa, Mi và anh chàng Phayvanh người Lào như một cặp thanh mai trúc mã, chắc chắn họ phải là đôi bạn thân từ nhỏ. Ai cũng nhận ra Phayvanh say mê cô bạn của mình. Mi mang sắc đẹp và giọng nói của miền thượng du Tây Bắc, và một thân hình người mẫu. Sự thân thiết này khiến tôi nhớ Vũ. Giá mà Thượng Đế cho phép Vũ ở đây. Tôi cũng nhận ra mình chưa dốc tâm vào tương lai. Tâm trí chờ chực bất cứ chi tiết nào gợi lên quá khứ để nhấn chìm tôi vào nỗi u sầu. Làm sao để đừng nhớ nhưng cũng đừng quên.

 

Chú Denis đưa những người mới đến lớp cô Isabelle để học thêm Pháp văn và khảo sát trình độ của chúng tôi cho việc xếp lớp vào tháng Chín. Con đường nhựa eo hẹp uốn éo, hai bên đường không một bóng người, không nhà cửa; cây cỏ cao lớn mạnh mẽ ngự trị mặt đất, chọc thẳng lên trời. Sự chế ngự của thiên nhiên hoang dã khiến tôi thấy chơi vơi giữa một biển cỏ trùng trùng nhấp nhô. Tôi sợ hãi với ý nghĩ nếu phải ở đây một mình. Cuối cùng xe dừng lại trước một khoảnh sân rộng ngập lá vàng khô, gió xao xác, không khí đậm mùi cũ kỹ tựa đã đọng lại nhiều đời kiếp. Lớp, đơn giản là một ngôi nhà chỉ có bốn vách tường đá chắc đã đứng hơn trăm năm, một bộ bàn ghế và một tấm bảng. Cô Isabelle tóc vàng cột đuôi, ánh mắt sau lớp kính cận dày cộm cười đón chúng tôi. Tôi chưa thấy cô giáo nào chìu học trò như vậy. Ngày học từ sáng đến chiều, cô nói ai chán thì cứ chơi, muốn biết thêm gì thì cô dạy. Nghĩ lại, tất cả mọi người lớn đều nuông chìu chúng tôi. Trưa, chú Denis quay lại với thức ăn nóng hổi luôn cả đĩa và dao nĩa, nhưng khi bày ra thì không thấy phần của cô Isabelle, và cô chỉ gặm một quả táo. Đám học trò nài nỉ mời cô ăn chung. Tôi thấy rõ vẻ ngần ngại cùng sự cố gắng cưỡng lại. Nhưng cuối cùng, cô chịu thua cho mùi hương thơm phức đang lấn áp không khí vào đến tận cùng hơi thở. Cô ngượng ngùng hơn nữa khi một hôm bà giám đốc Escoubet mà chúng tôi gọi là Madame Arnoux ghé bất chợt trong giờ ăn, và bắt gặp. Tôi không hiểu tại sao chú Denis không chuẩn bị cả phần của cô Isabelle để cô tự nhiên hơn. Sau một tuần, cô Isabelle cho biết trình độ Pháp văn của tôi đủ, những người khác cần học thêm vài tháng. Vậy là tôi không cần đến lớp, không bao giờ gặp lại cô nữa. Em Lan xin cô dạy đàn guitare, tôi mới chợt nhớ em mình đang ở tuổi mộng mơ, và nhận ra trong lòng chính mình tất cả mộng mơ đã tan mất. Thỉnh thoảng tôi nghĩ về cô Isabelle, không biết gia đình cô có ruộng vườn, quanh đây không có bao nhiêu công ăn việc làm, mấy tháng hết lớp cô sẽ đi về đâu.

 

Gương mặt tôi chưa gì đã tròn ra, tôi viết trong thư như vậy. Nhìn lại tấm ảnh khổ 4x6 chụp ở đảo thấy xơ xác đen đủi. Thức ăn ngon, có khi được ăn bánh gâteau tráng miệng, à, rất ngộ là sữa uống bằng tô và súp ăn bằng đĩa, tôi hỏi thời Pháp thuộc của bố có vậy không. Tôi khoe thêm sáng nay được đưa ra phố Éauze mua sắm để chuẩn bị nhập học. Và cười, phố chính của Éauze nơi bày chợ trời nhỏ hơn bùng binh Ngã Bảy của mình. Mà Éauze là thủ phủ của tỉnh Armagnac. Vũ có đến nhà tìm con không.

 

Quảng trường của Éauze chừng hai mươi mấy thước vuông, thưa người qua lại cho buổi sáng thứ bảy. Lần đầu được thăm viếng phố cổ hai nghìn năm, tôi dán mắt khắp nơi. Cô Gaillard hướng về quán ăn, chỉ trỏ những chạm trổ còn sót lại trên bức tường đá xây từ khi La Mã xâm chiếm Pháp. Những hàng quán chung quanh đều xây bằng đá và khung gỗ, mộc mạc nhưng vô cùng mỹ thuật. Cô rẽ vào một con đường hẹp, đi thoăn thoắt trên những đoạn vẫn còn lót đá, một lúc đến tiệm tạp hóa. Mỗi chúng tôi được mua một túi ba-lô dưới một trăm quan, thì ra ở Pháp học sinh không dùng cặp táp. Các quầy chất đủ thứ đồ dùng của học sinh lạ mắt. Tôi đi lên đi xuống, mê mẩn xem hàng xem giá, miễn tổng số dưới một trăm quan thì cô Gaillard sẽ cho phép mua. Cuối cùng, tôi chọn một chiếc ba-lô màu xanh ô liu, nhìn hơi bụi đời như bụi bặm trên Éauze mộc mạc, và một hộp đựng viết màu hồng rất xinh xắn. Cô Gaillard tử tế, kiên nhẫn chờ đám trẻ ở quầy trả tiền. Chúng tôi đi ngược ra quảng trường. Lên xe ra về, tôi đem theo chút hoài niệm vương vất trong không khí của phố thị. Đi lại con đường làng năm cây số đưa đến Escoubet, tôi nghĩ lại thân phận của mình hôm mới đến trong cùng chiếc xe. Ký ức của bốn tháng trước đó và sáu lần chuyển tiếp chợt kéo về. Rồi cảm giác chơi vơi ập đến. Làm sao để xem nhẹ quá khứ. Tối đó tôi ôm hộp viết màu hồng đi ngủ, nằm trăn trở nhớ nhà. Hôm mẹ đưa cả nhà đi thương xá Tax, tôi cũng đã dán mắt trên các tủ kính, và cuối cùng chọn một con búp bê tóc vàng với đôi mắt xanh biết chớp. Mẹ nói thưởng tôi thi đậu vào lớp Sáu trường Saint Éxupery. Năm tôi học lớp Nhất, bố đi Nhật mua về cho tôi một con búp bê mặc kimono đỏ biết quay vòng vòng khi vặn nút âm nhạc. Tôi không thể ngừng mơ ước trở về những thời gian đó. Sự tĩnh lặng của ban đêm và bóng tối làm mù mờ hiện tại. Tôi đi vào giấc ngủ với sự nhọc nhằn, lại mơ thấy mình về nhà và căn nhà của mình chìm trong u ám.

 

Tôi đến cổng trường với tất cả bở ngỡ của ngày đầu tiên đi học. Vũ quá xa xôi để có thể cùng đi vào lớp, nên lớp học lạnh lùng xa cách. Thầy hiệu trưởng bất chợt vào cắt ngang cô giáo, nét mặt nhăn nhó, đi thẳng đến bảng cầm phấn lên viết phương trình bậc hai và bảo tôi giải. Loại này tôi đã học hai năm trước nên cho ngay kết quả không cần suy nghĩ. Ông nhún vai, “Lớp Chín là phải rồi!” Vậy là tôi được xếp vào lớp Chín cũng là lớp cao nhất trường làng. Tôi viết nốt bức thư, báo tin cuộc sống mà tôi rời bỏ đang nối tiếp trở lại. Rồi gửi về nhà.

 

Nhưng là một nối tiếp trớ trêu như mình đã đầu thai vào kiếp đời mới, mà vẫn mang theo ký ức của đời trước. Tôi bây giờ là trẻ mồ côi sống trong một cô nhi viện ở miền Nam nước Pháp. Cha mẹ hiện diện trong một căn nhà mà tôi chỉ có thể về trong những giấc mơ. Khi ngoan, tôi cám ơn Thượng Đế; bốc đồng thì muốn trả lại món quà Ngài đã ban. Trả lại rồi về đâu khi nơi mình muốn về chỉ còn là hình ảnh? Tất cả chỉ vì miền Nam đã bị cướp đi sự nhân bản.

 

Phải, chúng tôi đã trả một giá rất đắt cho kiếp đời mới này. Nhưng dần tôi hiểu ra, việc trả giá sẽ không ngưng. Vì quá khứ tôi yêu mến khiến hiện tại dù thế nào cũng không hoàn chỉnh. Tôi mười bảy tuổi, hiểu mình sẽ đem theo quá khứ suốt cuộc đời.

 

Vũ Thị Thanh Mai

(Buena Park, 4/2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.