Hôm nay,  

Hương Mùa Hạ

17/06/202200:00:00(Xem: 3553)

 

BushHoneysuckles-2
Hoa Kim Ngân (Honeysuckle)

 

Bước vào rừng, khách thơ sẽ thấy thân nhiệt hạ xuống ngay lập tức. Cái nóng rát bỏng trên da không còn nữa. Và mùi hương rừng thoang thoảng vây quanh. Rừng có hương thơm sao? Có chứ! Bạn chẳng từng nghe nhà văn Sơn Nam với tập truyện nổi tiếng “Hương Rừng Cà Mau” đó sao. A! Có thể mùi cây tràm cây đước chỉ là mùi hương tượng trưng, nghiêng về tinh thần hơn là vật chất, nhưng ở đây, New Jersey, hương rừng có thể được nhận thức bằng khứu giác.
 
Người Nhật với khái niệm tắm rừng, shinrin-yoku, có nói đến phytoncide, một chất hóa học, dễ bốc hơi, do cây toát ra để tự bảo vệ chống mối mọt và bị các loài khác tấn công. Chất hóa học này do khoa học gia Nga, Boris P. Tokin tìm ra. Phytoncide không màu sắc không mùi vị. Nhưng nếu có mùi, chắc phải giống mùi hoa kim ngân.
 
Kim ngân, tiếng Anh là honeysuckle. Hoa trắng, khi sắp tàn biến thành màu vàng. Hoa thường mọc từng đôi giống như cặp ghế người Mỹ hay để trong sân trước, sân sau, hoặc là dọc theo mé nước, bờ hồ, để trang trí hay mời mọc khách đi ngang ngồi xuống nghỉ chân. Nhụy hoa giống như sợi chỉ được thắt gút ở đầu, cong cong, mềm mại, ẻo lả, thật duyên dáng.
 
Tháng Sáu là mùa hoa kim ngân. Đây là loại dây leo, mọc ở nơi vừa có nắng vừa có bóng râm. Khi leo trên cây, hoa có thể phủ trùm các nhánh cây, biến cây thành đủ thứ hình dạng. Từ xa, bụi kim ngân trông giống như một lẵng hoa. Cây bị kim ngân trùm kín có thể giống như cây dù, hay một mái nhà hoa, hay những bậc thang khổng lồ kết bằng hoa dành cho các vị tiên bước lên thiên đàng.
 
Kim ngân rất thơm. Tôi biết mùi hương kim ngân trước khi nhìn thấy hoa qua một loại kem dưỡng da của Victoria Secret. Tuy vậy, mùi hương nhân tạo nồng gắt kém mùi tự nhiên của hoa rất xa. Kim ngân có mùi hương ngọt, đậm hơn dạ lý hương, gần giống như mùi hoa nhài. Nói vậy, thật ra khó có thể so sánh mùi hương, (ai đem phân chất được mùi hương?) ngoại trừ khi người ta có cái mũi thính như những người chuyên môn thử nước hoa. Tôi từng gặp một cặp vợ chồng người Trung quốc hái kim ngân đem về ướp trà. Hoa mọc hoang dã, mùi hương như bay theo từng bước chân người. Trong rừng khoáng đãng hoa thơm dễ chịu nhưng nếu hái nhiều để trong nhà chắc sẽ gây khó chịu.
 
 
Năm nào cũng vậy, cứ mùa hạ là tôi nghĩ đến vở kịch thơ của Shakespeare “The Midsummer Night’s Dream / Giấc mơ đêm hạ chí.”  Năm nay, 2022, ngày hạ chí là ngày 21 tháng Sáu. Chỗ tôi ở rất gần với Central Park của thành phố New York. Nơi đây hằng năm vào mùa hè người ta tổ chức trình diễn kịch Shakespeare trong công viên (Shakespeare in the Park). Đây là một tiết mục văn hóa rất được yêu chuộng, trước là để mang kịch Shakespeare đến gần với công chúng, sau đó là để giới trí thức, văn nghệ, có dịp gặp nhau. Kịch Shakespeare cũng giống như nhạc giao hưởng không được phổ biến lắm trong công chúng nhưng không vì thế mà không đắt hàng. Vé chỉ tặng chứ không bán, nhưng phải ghi danh online, hoặc sắp hàng chờ được tặng. Người ta phải sắp hàng từ sáng sớm để được có vé. Nếu tặng vào quỹ ủng hộ chương trình độ năm trăm đồng US, người tặng tiền sẽ được tặng hai vé đi xem kịch ngoài trời. Rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ đã từng trình diễn trong chương trình “Shakespeare in the Park” và họ rất hân hạnh được tham dự buổi diễn. Một vài tên tuổi nghệ sĩ nổi tiếng trong đó có Natalie Portman, Meryl Streep, và Al Pacino. Dĩ nhiên danh sách còn dài, nhiều người nữa. “Giấc mơ trong đêm hạ chí” là một vở kịch rất ăn khách của chương trình.
 
Tôi cũng nghĩ đến “Giấc mơ đêm hạ chí” khi đi trong rừng giữa mùi hương của hoa kim ngân. Shakespeare gọi hoa kim ngân là woodbine. Ông đã nhắc đến tên loại hoa này trong vở kịch nói trên. Vở kịch rất dài với nhiều chi tiết tròng tréo với nhau. Hoa kim ngân xuất hiện trong Act II, Scene 1, chỉ vài câu. Tôi xin tóm tắt hầu độc giả đoạn kịch dẫn đến sự xuất hiện của hoa kim ngân.
 
Oberon là vua của các vị tiên. Titania là hoàng hậu của Oberon. Titania muốn ở lại thành Athens (Hy Lạp) để dự lễ cưới của Công tước Theseus với nữ hoàng Amazon Hippolyta ở Athens (Hy Lạp) nhưng Oberon không bằng lòng vì vị vương tiên đang giận bà vợ của ông. Số là, Titania có một người hầu cận. Oberon muốn thu nạp người hầu của vợ để phục vụ cho ông nhưng Titania từ chối; viện cớ người hầu này là con của đệ tử của bà. Để trừng phạt vợ, Oberon ra lệnh cho Puck, một vị tiên nổi tiếng phá phách và nghịch ngợm, tìm cho Oberon một thứ nước trích từ hoa “love-in-idleness.”  Đây là một loại hoa, ban đầu có màu trắng nhưng khi bị trúng mũi tên của thần ái tình Cupid thì hoa sẽ biến thành màu tím. Khi lấy nước này thoa lên mắt của một người đang ngủ, người này khi thức giấc sẽ yêu bất cứ sinh vật nào họ gặp đầu tiên. Oberon chơi khăm vợ, ra lệnh cho thoa nước “bùa yêu” này lên mắt của Titania, và giàn xếp cho bà vợ gặp một con lừa ngay sau khi thức giấc. Ông muốn hạ nhục vợ để bà thần phục ông rồi dâng nạp người hầu.
Sau đây là đoạn Oberon hỏi Puck về loài hoa có thể ép lấy nước làm bùa yêu.
 
Oberon hỏi Puck: Ngươi đã tìm thấy hoa ấy chưa?  Xin chào đón kẻ lang thang.
Puck: Thưa có, nó đây ạ!
Oberon:
 
Ngươi hãy đưa nó cho ta.
Ta biết một bờ suối có cỏ xạ hương lung lay trong gió,
Hoa oxlip và violet mọc đầy
Và hoa kim ngân mọc bên trên như một mái che
Hương ngọt ngào giống như hoa hồng dại và eglantine:
Titania thỉnh thoảng ngủ ở đây
Được ru giấc nồng bởi những vũ điệu của các loại hoa;
Có con rắn trải làn da của nó
Thật rộng, đến độ có thể ôm trọn cả một nàng tiên
.[1]
 
Love-in-Idleness người ta nói đó là hoa Viola ba màu. Đây là giống hoa cuối mùa là tàn, năm sau phải trồng lại. Tôi có lần gặp loại hoa này có mùi thơm, nhưng phần nhiều, hoa không thơm. Có lẽ phải vào giữa đêm hạ chí thì nước cốt của hoa mới có tác dụng làm bùa yêu.
 
Người ta yêu mến vở kịch “Giấc mơ đêm hạ chí” cũng không lạ. Vở hài kịch chứa nhiều cổ tích thần thoại, và nhiều mối tình làm điên đảo cả tiên giới lẫn hạ giới. Trong kịch Shakespeare, độc giả có thể tìm thấy rất nhiều tên các loại cây cỏ và hoa lá. Nhiều đến độ người ta thành lập công viên trồng các loại cây, hoa, và gia vị được Shakespeare nhắc đến và đặt tên công viên là Shakespeare. Trong Central Park cũng có Shakespeare Garden.
 
Không chỉ nhắc đến hoa kim ngân trong “Giấc mơ đêm hạ chí” Shakespeare còn nhắc đến hoa này trong một vở kịch khác cũng nổi tiếng không kém, Much Ado About Nothing.
 
Kim ngân đã có mặt từ thời xa xưa, huyền thoại Hy Lạp đã từng nhấn mạnh mùi hương lâu tàn của nó. Huyền thoại kể rằng Daphnis (trai) và Chloe (gái) là hai đứa trẻ bị bỏ rơi. Cả hai được hai gia đình chăn cừu khác nhau nuôi dưỡng. Cả hai đều trở thành mục đồng và khi lớn lên họ yêu nhau. Cả hai đều không hiểu được sự trưởng thành của cơ thể nhưng Daphnis được học về tình dục qua sự truyền dạy của một người phụ nữ lớn tuổi tên là Lycaenion nhưng đó là bài học sai lầm. Lycaenion bảo rằng Chloe sẽ đau đớn, la hét, khóc lóc, và chảy máu cho đến chết nếu Daphnis đụng vào nàng. Mỗi lần cả hai gặp nhau đều phải có sự giám sát của Lycaenion, và chỉ được ở bên nhau khi nào hoa kim ngân còn tỏa hương. Daphnis cầu nguyện với thần linh, và được nữ thần tình yêu ban phép khiến mùi hoa lâu tàn và cả hai được ở gần nhau lâu hơn.
Không chỉ xuất hiện trong kịch Shakespeare và huyền thoại, hoa kim ngân được rất nhiều thi sĩ nổi tiếng nhắc đến. Khi không gặp cây để leo, hoa kim ngân mọc tràn lan trên mặt đất. Dọc theo đường xe lửa, hoa kim ngân mọc tràn trắng và vàng ngập cả cánh đồng.
 
Nhà thơ Walter Scott viết:
 
And honeysuckle loved to crawl
Up the low crag and ruin'd wall.
(Hoa kim ngân thích bò lên
Trên bờ đá dựng và vách tường xiêu đổ).
 
Elizabeth Barrett Browning, John Milton, John Keats, và Alfred Tennyson là những nhà thơ lừng danh đã viết những câu thơ miêu tả và khen ngợi hoa kim ngân.
 
Nếu so sánh bốn mùa của thiên nhiên với đời của một người, có lẽ mùa hạ là tuổi đẹp nhất, vui nhất, và sung mãn nhất. Tuổi của một thanh niên hay thiếu nữ trên đường đến mức trưởng thành. Nhắc đến mùa hạ, Ray Bradbury sẽ nghĩ đến ủ rượu bằng cây Bồ Công Anh (Dandelion Wine); nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sẽ ao ước “đưa em đi khắp cả hý trường”; nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sẽ “đứng lên gọi mưa vào hạ” để được nhìn “mưa thì thầm dưới chân ngà”;  Đức Huy sẽ “muốn được cùng em về miền biển vắng, mình sẽ sống những ngày hè nhuộm nắng.”
 
Còn tôi, xin mời bạn vào rừng. Nhớ mang theo thuốc chống muỗi vì chúng sẽ yêu mùi hương trên da bạn lắm đó. Tìm một chỗ ngồi hưởng gió sông và thưởng thức hương mùa hạ. Bạn sẽ không cần làm gì cả ngoài làm biếng.
 
Nguyễn Thị Hải Hà
 

[1] Shakespeare, Midsummer Night’s Dream, Act II, Scene 1. NTHH dịch.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.