Hôm nay,  

TRANG THƠ THÁNG BẨY

11/07/202209:07:00(Xem: 2573)

THƠ TRẦN HẠ VI

 

NguyenKhai 036
Tranh Nguyên Khai.

 

 

đa tình tự cổ...


Tôi đã khóc nghe chuyện nàng 'nhón gót'(*)
Có hay đâu phận số vận vào người
Nàng năm đó tương tư mòn bóng lẻ
Tôi bây giờ thương mãi một bóng tôi

Thà chưa được, chẳng bao giờ, có được
Biết đâu rằng, được rồi mất, mới đau
Vũ trụ sắp bày thế gian đảo lộn
Một dòng tên, tôi hụt hẫng, té nhào

Không nỡ trách. không nỡ hờn. ly biệt
Tự bắt đầu đã biết chẳng non xanh
Cứ nuối tiếc từng ngày nên lần lữa
Chới với màu chiếc bóng xoắn năm canh

Cổ tích chín ngậm cười thiên thu mộ
Nửa vòng xanh nàng nhón gót rã rời
Tôi bẻ bút đốt. tàn đêm hoang, dại
Vẫn thương người. thương mãi. đến xanh sau

(*) thơ Du Tử Lê

 

Tưởng

người nhón gót: thả vầng trăng thứ nhất(**)
câu chuyện xưa/ anh nhắc, tôi thoáng buồn
người năm đó. nghĩ gì? đêm, khắc khoải
tôi giật mình, khóc mướn lại thương. vay

người nhón gót: thả cuộc tình vào mộng
tôi đan thơ dan, díu bóng hanh hao
sầu nhân thế nhặt sao trời. níu, kéo
/ai/ một mình. thui thủi đến xanh. xao

yêu thương thắm: anh vẫn dành môi mắt
sao đã nghe; xa cách tựa ươm, mầm
người nhón gót buông tay; tình chìm, khuất
tôi nơi này/ nước mắt đẫm. thanh. tân

Kiều năm ấy: khóc ròng Đạm Tiên mộ
nghe chuyện người; tôi xót khúc. xa xăm
người nhón gót: thả bài thơ, thứ nhất
Se. rưng buồn, héo, hắt, một dòng. trăng

(**) tên một bài thơ của Du Tử Lê.


 

em còn trẻ và em không thể biết

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Căn hầm tối và điếu thuốc đỏ bầm

Hai mươi chín ngày

Đốt hy vọng dưỡng nuôi mầm sống

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Mỗi người đều có một cái giếng bỏ hoang

Trong đời. Đàn kiến vàng lũ lượt bò ngang

Một bầy muỗi bay về đẻ trứng

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Sóng đánh thân tàu ôi sóng vịnh Thái Lan

Nếu không có cô du kích mủi lòng

Anh đã chết, vào tù, cải tạo

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Bốn mươi tháng có bấy nhiêu ngày

Lây lất đứng, lây lất nằm, bi ai

Khi anh trẻ, và anh còn chưa biết

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Mùi thuốc súng sau vườn đạn lạc

Dép tổ ong giẫm lên nhau chạy loạn

Xác người nằm bờ bụi cạnh mương tre

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Tình yêu vẫy gọi từ lòng đất mẹ

Đau đớn kiệt cùng anh phải ra đi

 

Em còn trẻ và em không thể biết

Vì sao ta gặp nhau

Vì sao anh yêu em

 

Trần Hạ Vi

*

THƠ CHÚC THANH

 

photo1
Tranh Đỗ Hoa.

 

 

 Cám Ơn

 

Cám ơn câu hát bên nôi,

Cho tình non nước đầy vơi trong lòng.

Cám ơn ngày tháng thong dong,

Cám ơn cả những long đong phận người.

Thong dong đi giữa núi đồi,

Gấm hoa xin cám ơn người ngàn xưa.

Cuộc đời rầy gió mai mưa,

Cám ơn những tiếng tơ xưa trong Kiều.

Mai này cát bụi quạnh hiu,

Cám ơn những tiếng chuông chiều chơi vơi.

Ngược xuôi đi giữa dòng đời,

Cám ơn này những tình người quanh tôi…

 

 

Cứ như tình cờ

 

Trong tim tôi sâu thẳm

Có một điều không tên

Một điều luôn rất lạ

Dẫu tháng ngày đã qua

 

Một điều như lầm lỡ

Nhưng chẳng muốn đổi thay

Một điều luôn muốn giấu

Lại sợ người không hay

 

Một điều luôn ngóng đợi

Mà cứ như tình cờ

Một điều đang có thực

Vẫn ngỡ là trong mơ

 

Tôi sẽ không hề nói

Thềm tôi nhiều gió bay

Để tim tôi sâu thẳm

Là mây hồng chiều nay

 

 

Ta thấy em

 

Ta thấy em khi vầng dương tỏa sáng

Bóng chênh vênh, thoai thoải dáng mai gầy

Xuân ấm áp, khoe muôn hoa sắc thắm

Ta bàng hoàng, ngây ngất cả mộng mơ

 

Ta thấy em, huy hoàng vương nắng hạ

Má hồng đào, tươi tắn nét mi cong

Mặt xinh xinh, vầng trán rộng thông minh

Ta thầm lặng, hay là yêu rồi nhỉ

 

Ta thấy em, trời vào thu dịu mát

Chiếc lá vàng, lảo đảo rụng bên song

Ta nhặt lấy, viết bài thơ tình ý

Gởi mây mùa, mang tới mến trao em

 

Ta thấy em, khi hoàng hôn xuống chậm

Bóng đổ dài, chênh chếch áng mây xa

Áo em bay, đầy trời đông buốt giá

Tha thiết tình, da diết dáng em qua

 

-- Chúc Thanh

 

*
 

THƠ QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

Аbstraction (1936)-Arshile Gorky
Abstraction (1936) của họa sĩ Arshile Gorky (1904-1948).


 

những mảnh rời, đóng chai

 

1.

khỏa thân đứng

khỏa thân ngồi

khỏa thân nằm

trong nắng nhạt

người mẫu chìm sâu vào lòng buổi chiều

ngẩn ngơ vô cảm

gió về ngang hàng lựu

soi mói những quả vô tâm chín mọng

đỏ tươi căng phồng

khỏa thân rơi vào cõi xa lạ. 

 

2.

hôm nay tôi đã thấm

đã chín muồi

nhưng chưa chín chắn già giặn

vẫn là trẻ thiếu niên

teenager hiếu kỳ

không khác con khỉ curious george

bồn chồn bất ổn

hồn dang tay mở rộng

đầy những bất ngờ chực chờ ở khúc quanh

và khúc quanh không bao giờ thiếu.  

 

3.

nghe từng thập niên lê lết

thất thểu trên vòm mái cong

đánh đổi ước mơ

đánh đổi lạc quan

cho chút tiền boa

cho cơ hội chấm mút

dẻo miệng biện minh

cho độc lập tự do hạnh phúc

hai cộng hai có thể là ba

phần thất thoát chia năm xẻ bảy  ̶ ̶ ̶ 

bôi trơn guồng máy hoang dã. 

 

4.

mỗi ngày khi nói với thinh không

tôi nghe trong miên man sâu thẳm

tình tự không lời

thời gian đã vỡ ra từng mảnh

và đóng chai

phần còn lại tung bay theo gió

rõ ràng tôi thấy nàng khỏa thân trong vườn

đứng / nằm / ngồi

vô cảm như hóa đá.

 

Quảng Tánh Trần Cầm 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.