Hôm nay,  

Nạn Nhân Thứ Thiệt

02/09/202200:00:00(Xem: 3901)

1
Trích tranh của CBS News, Saturday Morning, 16.08.22)

 

 

“Tác động tâm lý của chiến tranh đối với trẻ em là lâu dài và khủng khiếp.” (Borgen Magazine. 08.08.14.) Câu trích dẫn này xa lạ hay quen thuộc đối với người Việt sau 47 năm chấm dứt chiến tranh Nam Bắc 75? Những nạn nhân này, đến nay, đã sống trên nửa thế kỷ, có người đã hơn 100, có bao giờ chúng ta thừa nhận sự tai hại khủng khiếp của chiến tranh, sau chiến tranh, kéo dài, sâu đậm, trong đời sống còn lại của nhiều thế hệ, đã từng là trẻ em trong chiến tranh?

1. Borgen báo cáo: “Trẻ em gặp khó khăn đáng kể trong thời gian xung đột theo một số cách. Nhiều người bị kẹt trong làn đạn, với gần một nửa thương vong dân sự là trẻ em trong bất kỳ cuộc xung đột nào. Theo các tổ chức như UNICEF, 18 triệu trẻ em đã lớn lên trong các vùng chiến sự, nơi có hai triệu người đã chết, sáu triệu người bị thương tật vĩnh viễn và một triệu người trở thành trẻ mồ côi. Những đứa trẻ này lớn lên với sự căng thẳng vốn có khi sống trong vùng chiến sự, và hầu hết đều trải qua những ảnh hưởng tâm lý nặng nề sau này trong cuộc sống.” Thường xuyên, chúng ta có cảm giác hoặc biểu lộ sự giận dữ, phê phán, hoặc thậm chí khinh bỉ những hành vi, cử chỉ, lời nói của người đồng hương từ trong nước ra hải ngoại. Ít nhất là có 10 lý do chính đáng khác nhau để giải thích hoặc quy tội cho những việc họ làm kỳ cục, ngô nghê, khôn vặt, ma giáo, đê tiện ... Một trong số lý do đó là thương tích tâm lý của chiến tranh. Mặc dù, tôi vẫn đặt câu hỏi: Hối lộ, tham quyền, có phải là hậu quả của chiến tranh? Không. Vì các đất nước hòa bình lâu năm vẫn có bạo quyền, hối lộ, tham lam, … Có những thú tính thuộc về căn bản làm người, sẽ xuất hiện cho dù người đó có quá khứ như thế nào. Nhưng không thể phủ nhận, hậu quả tâm lý của chiến tranh sẽ phát triển thú tính nhiều hơn nhân tính. Có một thời chúng ta nhận thấy trẻ em ở Việt Nam quá sức ma lanh ma le, thông minh xuất chúng về việc gạt người, mưu tính lợi ích, đến mức chúng ta tự hỏi đất nước này còn có giáo dục căn bản hay không? Nghèo tinh thần và nghèo vật chất là hậu quả nhản tiền của chiến tranh. Những trẻ em thời đó, giờ đây, là những người lớn đang sinh sống khắp nơi, những tính xấu đó không dễ gì thay đổi.

“Trẻ em bên lề của một khu vực chiến tranh cũng phải đối mặt với chấn thương. Nhiều trẻ em mồ côi hoặc mất cha hoặc mẹ khi phải di dời. Ed Cairns của Đại học Ulster phát hiện ra rằng xa cách cha mẹ là một trong những trải nghiệm căng thẳng nhất đối với những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Cairns nói rằng, bởi vì trẻ nhỏ dựa vào gia đình để bảo vệ và đối phó, một gia đình bị chia cắt có thể khiến trẻ cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng. Việc mất đi cha mẹ có thể dẫn đến ít thứ sở hữu hơn như thức ăn, nước uống và cư trú, điều này ngăn cản đứa trẻ lớn lên trong một môi trường an toàn và lành mạnh. Trẻ em mồ côi phải làm việc để tự kiếm ăn, nghĩa là chúng không có cơ hội được học hành và có một tuổi thơ vui tươi.

Trẻ em lớn lên giữa chiến tranh phải đối mặt với mức độ chấn thương đáng kinh ngạc, nhưng viện trợ nhân đạo có xu hướng tập trung vào nhu cầu thể chất của chúng hơn là nhu cầu tâm lý. Các tổ chức phi chính phủ cung cấp thực phẩm và tiêm chủng, nhưng bỏ qua thực tế rằng phần lớn thiệt hại là chấn thương tâm lý lâu dài. Viện trợ thường vá những vết thương thể xác hơn là những vết thương tình cảm.” (Trích cùng tin báo Borgen.)

Những sự kiện này, hầu như ai cũng biết, nhưng gần hết chúng ta thiếu quan tâm, hoặc quan thâm theo kiểu cháy nhà người khác, không phải nhà mình. Dân ta thường thường dị ứng với đồng hương. Đúng. Vì họ khó thương? Không hẳn là vậy. Tôi cũng là một người ít thương xót đồng hương. Đúng. Vì họ dễ ghét? Không hẳn là vậy. Vì hầu hết những ai không ưa, xa lánh, đố kỵ đồng hương, đều là nạn nhân của chiến tranh. Hầu hết chúng ta là những trẻ em đã lớn lên trong đất nước chiến tranh. Lớn khôn với thói quen đề phòng, chống đối, nghi ngờ, ghen tị, cạnh tranh, với những người chung quanh, để tồn tại, để vượt lên. Thói quen đó trở thành phong thái hoặc kiểu cách sống tự động, khó chữa hơn bệnh ung thư, thậm chí là một loại bệnh bất thường kinh niên. –  “Không chữa được, biết để làm gì?”

2. Dường như ở Việt Nam, dù dưới chế độ nào, cũng ít thấy sự khuyến khích trẻ em đối diện, nhận xét, trình bày cảm nhận chiến tranh mà họ đang sống với qua nghệ thuật, dễ nhất là tranh vẽ. Có lẽ, ngược lại nữa là khác, người lớn thường che đậy, giấu giếm, để bảo vệ sự non nớt của trẻ em. Sợ con mình bị ám ảnh bởi những kinh dị, máu me, tàn ác.  Tôi cũng bị giấu kín. Sống trong chiến tranh mà như thể đang xem phim ảnh thời sự về chiến tranh. Người sống trong thành phố, trong vùng an toàn, xa cách người đang chiến đấu, người sống trong những vùng xôi đậu. Chiến tranh không phải của tôi? Vậy thì của ai? Của chú tôi, ba tôi, anh tôi và một số hàng xóm. Nhắc lại chuyện này là sự xấu hổ không cách nào rửa sạch, nó là vết xâm vào lòng, và chảy máu hổ thẹn cho dù bất kỳ về sau giàu sang, phú quí, tên tuổi, chức vị nổi bật như thế nào. Khi đó, chiến tranh gần chấm dứt, đại họa kề ngang cổ mà một số lớn người trẻ trong thành phố, ở thủ đô, có tôi, vẫn sống như người ngoại quốc. Yêu đương, cà phê, đi lui đi tới, chạy xe khắp phố phường. Vô tư.  Không chỉ con nhà giàu, con nhà nghèo, nhà trung lưu, cũng vậy. Chúng tôi không được giáo dục để đối diện chiến tranh, chiến tranh của mình, chiến tranh giết chết người thân của mình, chiến tranh tàn phá và di hại cho dân tộc mình. Thật đáng tự kinh sợ.

2
Trích tranh Daria, trong The Art Newspaper.

 

“Mum,I don’t want war,” “Mẹ ơi, con không muốn chiến tranh,” là lời nói của một trẻ em người Ukraine, đã trở thành tựa đề bài báo, trong The Art Newspaper, tháng 8 năm 2022.

Mum, I don’t want war, trở thành một tựa đề giáo dục trẻ em và thông tin đến thế giới về cuộc chiến Ukraine và Nga đã kéo dài qua nhiều tháng. Những thành phố lớn, hoặc những nơi có thể thực hiện, đã trình bày những tranh vẽ của các trẻ em ở những chỗ công cộng về những cảm nhận, những suy nghĩ, những lo sợ, những phiêu lưu, những tử vong, những thần tượng … từ các tâm hồn ngây thơ nhìn thế sự khổng lồ ngoài tầm tay.

3
Tranh từ CBS, Saturday Morning.

 

4
Tranh CBS Saturday Morning

 

3 buc
Ba bức tranh trích CBS Saturday Morning

 

“…trên 16 thành phố trên khắp Ba Lan, bao gồm Warsaw và thị trấn biên giới Przemyśl, một cảng đến chính của người tị nạn Ukraine — nhấn mạnh những kinh nghiệm chung về sự chiếm đóng, đàn áp và kháng cự, cũng như một niềm tin chiến thắng bền bỉ. Các bức vẽ tạo thành một minh chứng cảm động về chiến tranh, làm nổi bật tác động đặc biệt tàn khốc của nó đối với những thành viên trẻ tuổi nhất của xã hội.” (The Art Newspaper.) Chương trình: Mẹ ơi, con không muốn chiến tranh tập hợp một số hình vẽ của trẻ em Ukraine diễn tả trận chiến trên quê hương, cho dù chưa chắc các em đã biết quê hương là gì. Ngoài ra, còn có một số hình của các trẻ em Ba Lan, liên quan đến thế chiến thứ Hai, từ ngân khố quốc gia lưu trữ trên 13.000 bức vẽ của trẻ em trong đề tài “Mẹ ơi, con thấy chiến tranh.”

8
Tranh trích The First News 18.07.2022

Chúng ta có thể nhìn thấy sự ám ảnh của chiến tranh đã xâm nhập vào đôi mắt và khủng hoảng tâm hồn trong trắng như thế nào. Nhũng tâm hồn đó tự nhiên bị vấy máu, tàn phá, chết chóc, thảm họa, … lớn lên, trưởng thành, không bao giờ có thể lau sạch những hình ảnh và cảm xúc của thời thơ ấu. Thường xuyên làm cho tâm tư biến chuyển khác thường, trong những trường hợp thất bại bởi đời sống, sẽ trở thành bệnh bi quan, hoặc bỗng dưng trở nên “mát dây.” Không ít thì nhiều, có phải cộng đồng người Việt thế hệ lớn tuổi có nhiều dây bị mát? Dễ hiểu, dễ thông cảm. Mát là một hậu chấn thường xảy ra cho một số trẻ em lớn lên trong cuộc chiến. 

9
Tranh trích The First News

 

Nhưng điểm đẹp đẽ của tâm hồn trẻ thơ là lòng hy vọng vô vụ lợi. Một hy vọng không cần lý do. Một hy vọng sáng bừng như nắng ban mai. Cho dù tình cảnh đen tối, u ám như thế nào, tâm hồn trẻ con vẫn kỳ vọng những gì vui vẻ hơn, tốt đẹp hơn. Hãy hỏi những trẻ em lớn lên trong chiến tranh, các em muốn gì? Rồi hỏi những người lớn trong cùng một hoàn cảnh, chúng ta sẽ nghe thấy sự sai biệt, đôi lúc làm sững sờ.

Sự mong muốn và hy vọng lớn nhất của hầu hết các trẻ em là sự đoàn tụ, sự trở lại niềm vui cũ.

10
Tranh của The Art Newspaper

 
- “Không chữa được, biết để làm gì?”


Chữa được dấu xăm, vết hằn, tâm lý tổn thương của chiến tranh từ thơ ấu phải là một cơ duyên hiếm hoi. Hầu hết trẻ em của chiến tranh khi trưởng thành sẽ là người lớn của chiến tranh cưu mang những hệ lụy của thảm họa, cho dù tưởng rằng mình đã thoát được chiến tranh. Haruki Murakami nói rằng: Listen up – there’s no war that will end all wars. (Nghe nha, không có chiến tranh nào chấm dứt tất cả mọi chiến tranh.) Câu nói này có thể hiểu nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi tin rằng, dù cuộc chiến đã chấm dứt, mỗi người trong chúng ta đều phái chiến đấu tiếp tục với bóng đen của cuộc chiến vẫn còn lưu chuyển trong huyết mạch (cho đến chết).  

Tuy không chữa được, nhưng biết được, hiểu rõ, sẽ giúp chúng ta xử thế một cách phù hợp hơn, ít phê phán hơn, tử tế hơn. Listen up: không phải họ khó ưa mà mình khó ưa. Không phải chỉ có họ là nạn nhân chiến tranh, mà chính mình là nạn nhân thứ thiệt.

Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.