Hôm nay,  

Mùa Xuân Anh Đào

28/03/202320:06:00(Xem: 3641)

Tùy bút

 

hoa dao

Cách nay mười năm tôi có một chuyến sang Nhật Bản vào mùa xuân. Chọn đi vào dịp này là để xem anh đào ngoài chuyện viếng các thắng cảnh nổi tiếng như núi Phú Sĩ, Kim Các Tự, các đền đài, cổ thành, hào lũy… qua các thời trị vì của các tướng quân cũng như thăm một số thành phố như Tokyo, Kyoto, Kobe, Nagoya, Osaka…Tôi đến Nhật vào đầu tháng tư mà trời vẫn còn những cơn mưa, lúc vào ban sáng, lúc đến buổi chiều nhưng hoa anh đào vẫn không thay đổi sắc diện. Phải nói là hoa anh đào tuyệt đẹp làm choáng ngợp người xem. Đi bộ, ngồi trên xe chạy trong thành phố hay từ thành phố này sang thành phố khác, đâu đâu cũng thấy một màu hoa anh đào dưới bầu trời có lúc trong xanh, có lúc xám xịt bởi mây mưa che phủ. Có một điều là mưa không lớn, du khách có thể che dù đi dưới mưa để ngắm hoa. Anh đào đỏ ngập trong vườn thượng uyển, quanh hoàng thành. Anh đào nở rộ dưới chân những cổ thành rêu phong. Anh đào làm bóng mát che những tảng đá đứng vững ngàn năm. Anh đào bao phủ trên những mái đền thần đạo huyền bí. Anh đào trang điểm quanh những ngôi chùa cô tịch đã đi vào lịch sử vạn niên của xứ mặt trời. Anh đào chao nghiêng rơi rụng theo những ngọn gió thổi về “con đường triết học” của các nhà sư trầm mặc thuở nào. Anh đào mơ mơ hồ hồ dập dềnh trên những hào lũy chạy quanh vách đá thiên thu. Anh đào bay bay theo những vạt kimono thiếu nữ che dù e ấp dưới cơn mưa chiều rơi trên cổ thành Kyoto… Nhiều lắm…những anh đào…anh đào…ở xứ Phù Tang.

 

Dù là anh đào ở thủ đô nước Mỹ hay là anh đào ở thủ đô Nhật Bản, chắc chắc những cánh đào rực rỡ ấy cũng không phải là những thứ đã khắc sâu thấm đậm trong tâm hồn tôi như những cội đào gầy guộc, cành đào nhỏ bé, cánh đào mong manh của những cây anh đào thời bé thơ của tôi. Có lẽ những cây anh đào ở Đà Lạt ngày xưa đã lớn lên cùng tuổi tôi của thời thập niên bốn mươi năm mươi thế kỷ trước. Tôi nói đến những cây anh đào thời xa xưa – gọi như thế cho có vẻ cổ tích – khi tôi mới năm bảy tuổi đã thấy những cây anh đào này rồi, khoảng chừng chưa tới hai chục cây, được trồng dọc theo hai bên đường Lê Đại Hành. Những người “cổ tích” chắc nhớ con đường này. Nó bắt đầu từ trước mặt rạp hát Hòa Bình đổ xuống hồ Xuân Hương và tạo một khúc quanh phía bên kia Cầu Ông Đạo rồi chạy lên thêm một đoạn dốc đến trước nhà thờ Con Gà, phía sau tượng Đức Mẹ Maria rồi chia hai nhánh thành đường Trần Hưng Đạo. Những cây anh đào nghiêng nghiêng theo con dốc là tụ điểm của những ngày hoa nở vào mùa Giáng Sinh cho đến gần Tết âm lịch. Du khách đến thành phố Đà Lạt – khi xưa gọi là thị xã – vào dịp này chắc chắn sẽ có những tấm ảnh chụp chung với anh đào để mang về làm kỷ niệm. Có một nơi khác mà dạo đó tôi cũng thấy có anh đào. Đó là tại Vườn Bích Câu nằm giữa con đường vòng quanh hồ Xuân Hương, dưới chân Đồi Cù và họa hoằn cũng thấy đôi ba cây anh đào trước sân nhà của các cư dân thị xã. Xin mở ngoặc: tôi không nói đến nhiều loại anh đào người ta trồng khắp hang cùng ngõ hẻm ở Đà Lạt trong vài thập niên nay vì tôi là người thuộc loại “cổ tích”, chỉ nhớ chuyện xưa. Chuyện ngày nay ở Đà Lạt tôi không muốn biết. Hình như những loại anh đào và hàng trăm loài hoa khác người ta trồng hiện nay là để che lấp những núi bê tông mọc lên khắp nơi!

 

Nhắc tới Đà Lạt, hồi ấy được gọi là thị xã, ngoài một số tên được gọi như thành phố sương mù, thành phố ngàn thông, thành phố ngàn hoa… người ta còn gọi nó bằng một cái tên khác gắn liền với một loài hoa: thành phố Hoa Đào. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên gọi Đà Lạt là “Xứ Hoa Đào” qua hai bài hát nổi tiếng “Ai Lên Xứ Hoa Đào” và “Bài Thơ Hoa Đào” sáng tác vào đầu thập niên 1960 của thế kỷ 20. Năm tôi học bậc tiểu học ở trường tư thục Tuệ Quang, hầu như ngày nào tôi cũng thấy nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Giáo sư Hoàng Nguyên dạy môn Việt Văn bậc trung học. Sau đó thầy bị bắt vì hoạt động đảng phái. Bẵng đi một thời gian khá lâu, sau biết nhạc sĩ ở Sài Gòn, dạy học rồi vào quân đội và tử nạn năm 1973. Khoảng hơn mười năm trước, tình cờ tôi có gặp một vị quen, vốn người Đà Lạt, trước dạy học biết khá nhiều về nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Nhắc chuyện cũ, vị này cho biết dạo đó nhạc sĩ Hoàng Nguyên có “thích” một cô nữ sinh học trò học lớp đệ lục tên SK. Tôi có biết chị này, thuộc loại người đẹp của xứ anh đào. Lại một tình cờ nữa. Năm 2012 tôi gặp chị SK trên một chuyến cruise ở bờ tây nước Mỹ. Nếu chị không nói tên và gốc gác Đà Lạt thì tôi không sao biết được. Tôi có hỏi chị có biết nhạc sĩ Hoàng Nguyên và tên vài người nữa thì chị bảo có biết. Thế thôi. Hiện chị ở bên Canada.

 

Hoa anh đào Đà Lạt đã làm tốn rất nhiều giấy mực của giới nhạc sĩ, thi sĩ, các nhà văn nhà báo và để lại trong tim của triệu triệu người vì trong đời đã có ít nhất một lần được ghé thăm thành phố ngàn hoa. Đà Lạt thuở đó là nơi du lịch nổi tiếng, ai đến một lần suốt đời nhớ mãi với hình ảnh hai hàng anh đào chạy đổ theo con dốc từ trung tâm xuống đến hồ Xuân Hương. Đà Lạt là nơi du khách ưa thích chụp ảnh kỷ niệm như “Vườn Bích Câu” “Thung Lũng Tình Yêu” “Rừng Ái Ân”… và những thác nước mang tên có âm hưởng bên trời Âu như Prenn, Datanla, Gougha, Pongour… và những con suối mang tên “Suối Vàng” “Suối Bạc” “Suối Tiá” “Suối Thông” “Suối Tiên”… Vào những ngày còn chiến tranh người ta khó có thể đến những nơi xa xôi nên chỉ thả bộ lên Đồi Cù, vòng quanh hồ Xuân Hương, ghé thăm Vườn Bích Câu hay khám phá một không gian thơ mộng có đồi có suối như “Thung Lũng Tình yêu”.

 

Anh đào ở Mỹ và Nhật nở vào những ngày cuối tháng ba đầu tháng tư.Tôi không biết Đà Lạt, anh đào còn nở vào những ngày đầu mùa đông như ngày xưa hay không?

 

cahu 2

 

Có câu chuyện “trộm hoa anh đào” mà tôi và mấy người bạn là thủ phạm. Xin kể. Dạo đó chúng tôi có một nhóm sinh hoạt văn nghệ báo chí. Trong nhóm có mấy chị đều là những người từ Sài Gòn lên Đà Lạt học ở viện đại học Đà Lạt. Tết Ất Tỵ năm 1965 các chị này chuẩn bị khăn gói về Sài Gòn ăn Tết. Đám con trai trong nhóm chẳng biết có món quà gì tặng cho mấy nàng nên mới nghĩ ra cách là đi kiếm mấy cành anh đào để làm quà. Sau vài ngày chạy vòng thành phố để “nghiên cứu” chúng tôi phát hiện được tại một ngôi nhà nằm trên đường Võ Tánh, cách nhà Lê Uyên Phương vài căn về phía trái, gần ngã ba trường Bồ Đề có ba bốn cây anh đào vừa chớm nụ rất đẹp. Thế là chúng tôi chuẩn bị hai chiếc cưa nhỏ để đột nhập vào sân trước của ngôi nhà không có cổng. Những ngày cuối tháng chạp, trời không trăng không sao, hai đứa gồm tôi và Nguyễn Quang Tuyến cầm cưa lủi vào sân trong khi Trần Trọng Thức (chồng nữ tài tử Kim Cương sau này), Phùng Thuận đứng bên ngoài để chờ. Đồng loạt tôi và Nguyễn Quang Tuyến ra tay hành động và bắt đầu cưa được mỗi đứa một cành. Khi sắp ra tay cưa cành thứ hai thì từ bên trong nhà có tiếng la lớn “Ai đó?” Tôi và Tuyến ngưng cưa. Tôi nói nhỏ với Tuyến: “Tiếng thằng Tân bên khoa học” rồi tôi la lớn để đáp lại “Châu Đen đây!”. Từ bên trong lại có tiếng của Tân “Mày làm gì đó?” Phóng lao phải theo lao nên tôi trả lời ngay: “Xin mấy nhánh đào tặng người đẹp Sài Gòn”. Tân đáp lại: “Đừng có cưa hết cây nghen cha nội!” Tôi và Tuyến chờ Tân và ai đó sẽ ra sân tóm đầu hai đứa nhưng sau vài chục giây thấy bên trong nhà im bặt nên tôi và Tuyến ra dấu cho nhau để cưa tiếp. Kết quả là chúng tôi dứt được sáu cành đào mang ra giao cho Thức và Thuận. Tân đây là Nguyễn Xuân Tân, tác giả bài hát “Dậy Mà Đi”, nhà anh chàng ở đường Phan Đình Phùng, không biết sao anh ta lại có mặt tại ngôi nhà này và đã đồng tình cho bọn tôi cưa đào. Cả bọn chẳng đứa nào hiểu vì sao. Mấy hôm sau gặp Tân, anh chàng hỏi: “Mấy cha cưa được mấy nhánh của người ta vậy? Cả bọn cười: “Chỉ có sáu nhánh”. Về sau nhiều lần gặp Tân tại Sài Gòn và sau này ở Mỹ, tôi nhắc lại chuyện cũ và hai đứa cùng cười và mới biết thêm rằng đêm hôm đó Tân hẹn hò với bồ ở trong ngôi nhà có mấy cây anh đào, chỉ có hai đứa. Thì ra là thế…

 

Khi tôi được sang Mỹ tị nạn, sau ba năm tôi có một căn nhà ở vùng tây bắc thành phố. Sau khi tạm yên ổn, tôi liền nghĩ đến phải trồng vài loại hoa để nhớ Đà Lạt. Đà Lạt có nhiều loại hoa nhưng tôi chọn ba thứ. Thứ nhất là anh đào, thứ nhì là hoa hồng và thứ ba là hoa pensée. Sau ba lần dọn nhà tôi vẫn trồng ba loại hoa kể trên là chính ngoài những thứ hoa khác trồng theo mùa. Hiện nay ba cây anh đào phía sau nhà và một cây ở trước nhà đều nở hoa vào tháng ba cho đến tháng tư. Năm nay có một cây nở đúng vào dịp tết nên tôi có được ba bốn bình anh đào chưng trong nhà, nhìn rất mãn nhãn. Riêng cây anh đào ở một góc sân sau đã 17 tuổi, trước đại dịch Covid 19 tôi thường mời bạn bè Đà Lạt đến nhà họp mặt. Cây anh đào đang nở hoa là hậu cảnh cho những tấm ảnh của các chị cựu nữ sinh trung học Bùi Thị Xuân. Từ đại dịch đến nay chưa nghe ai có yêu cầu đến chụp hình bên cội đào nhà tôi nữa.

 

Vào đầu tháng giêng năm 2023 có một luồng khí lạnh từ phương bắc kéo xuống nơi tôi ở khiến cả lũ bông hoa cây trái đều vĩnh viễn ra đi. Mấy cây anh đào cũng cùng chung số phận. Tình cờ một buổi sáng còn vương vấn cái lạnh chừng như của Đà Lạt, tôi bước ra sân sau nhìn về phía cây anh đào ở góc hàng rào thấy có ba đóa anh đào màu hồng thắm đậu trên cành. Những ngày sau đó tôi thấy có thêm năm bảy đóa, chục đóa và mỗi ngày mỗi nhiều... Nhìn các cành thấy còn cả vài trăm nụ đang ngấp nghé nở. Tôi hy vọng vào hạ tuần tháng ba này cây anh đào của tôi sẽ nở rộ cùng với thời gian anh đào nở ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tôi lại ngồi ngắm hoa với tách cà phê buổi sáng… để nhớ Đà Lạt… nay đã “nghìn trùng xa cách”...

 

Phong Châu

(Thượng tuần Tháng 3 - 2023)


chau

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.