Hôm nay,  

Người đánh xe của Án Tử

22/04/202313:07:00(Xem: 3205)
Truyện

reeducationcamp

Án Tử (Án Anh) là Tướng quốc của nước Tề thời Đông Châu. Ông người thấp nhỏ nhưng trí óc cực kỳ thông minh, đầy mưu lược. Người đánh xe cho ông lại là một người cao lớn, dềnh dàng. Anh này rất hãnh diện vì được làm công việc đánh xe cho vị Tướng quốc tài giỏi này. Thường ngày anh ta hay cầm ngọn roi ngựa trên tay, đi đâu cũng hò hét nạt nộ om sòm. Thời bấy giờ giới quan quyền đi đường tiền hô hậu ủng lính tráng quát nạt vẫn là chuyện quá thường. Có lẽ anh ta chỉ muốn làm cho thiên hạ biết đến oai phong của mình chứ lòng anh ta cũng không đến nỗi xấu lắm. Án Tử thông cảm điều đó nên làm ngơ không chấp thái độ của anh ta khiến anh ta càng đắc ý.

     Nhưng rồi một hôm, sau khi làm xong nhiệm vụ trở về nhà chẳng thấy cơm nước dọn sẵn như mọi khi, anh đánh xe kêu vợ hỏi:

     – Sao nàng không lo cơm nước cho ta?

     Người vợ ở trong phòng không bước ra, nói vói:

     – Chàng tự liệu lấy đi, thiếp đang bận sửa soạn đồ đạc.

     Anh đánh xe buồn bực trách:

     – Sửa soạn cái gì chứ? Nàng cũng biết ta suốt ngày hầu hạ quan Tướng quốc bận rộn, đâu có thể tự lo lắng chuyện ăn uống được!

     Vẫn giọng nói từ trong phòng phát ra:

     – Thế thì chàng cứ tìm một người nội trợ khác đi! Thiếp đang sửa soạn để xin trở về ở với cha mẹ chứ không muốn ở với chàng nữa.

     Anh đánh xe nghe vợ nói như sét đánh bên tai, hoảng hốt hỏi lại:

     – Tại sao? Ta ăn ở có gì sai trái với nàng đâu? Nàng hãy nói cho ta biết lý do!

     Người vợ bấy giờ mới chậm rãi nói:

     – Chàng muốn biết lý do xin nghe cho kỹ. Ông Án Tử là người nhỏ thó, làm đến chức Tướng quốc, thế mà lúc nào ông cũng khiêm tốn nhỏ nhẹ với mọi người, coi như mình không bằng ai. Chàng thì cao lớn dềnh dàng, lại chỉ làm một tên đánh xe, thế mà khi ra đường cứ tay vung miệng thét coi như không ai bằng mình. Cảnh đó làm cho thiếp xấu hổ nên xin trở về với cha mẹ!

     Anh đánh xe nghe qua tỉnh ngộ, vội vàng nói:

     – Thôi thôi ta biết lỗi rồi. Ta thành thật xin nàng tha thứ. Từ nay ta sẽ sửa đổi.

     Người vợ bèn bước ra vui vẻ nói:

     – Chàng phải nhớ lấy lời hứa đó nhé!

     Nói xong nàng dọn cơm cho chồng ăn.

     Quả thật từ hôm đó người đánh xe đã thay đổi tánh tình. Đi đâu anh cũng tỏ ra dịu ngọt, nhỏ nhẹ với mọi người khác hẳn ngày trước. Án Tử thấy sự thay đổi khác thường của người đánh xe lấy làm ngạc nhiên, một hôm ông hỏi:

     – Dạo này ta thấy tánh tình ngươi thay đổi nhiều đấy, đáng khen lắm. Nguyên nhân nào khiến ngươi thay đổi được như vậy?

     Người đánh xe thành thật đem câu chuyện đã xảy ra kể lại. Án Tử nghe xong khen:

     – Thật là một người vợ hiền đức! Ngươi cũng là một người chồng tốt biết sửa đổi lỗi lầm nữa!

     Thế rồi Án Tử thăng cho người đánh xe hai trật lương.

 

***


Vào năm 1980, tôi bị đưa đi lao động ở đội 37 rau xanh trại Z30C Hàm Tân Thuận Hải. Đội trưởng đội 37 lúc bấy giờ là ông Hoàng H., một cựu viên chức từng có địa vị khá cao ở sở Ngoại Vụ VNCH. Hoàng H. là một trong những người “học tập” tốt nhất theo tiêu chuẩn của trại cải tạo nêu ra. Công việc ở các đội rau xanh là trồng rau, gánh nước tưới, làm cỏ, bón phân, vun xới cho rau và thu hoạch. Sản phẩm thu hoạch được sẽ cung cấp cho cả cán bộ trại lẫn tù nhân. Đội trưởng Hoàng H. rất siêng năng, lanh lợi, có tinh thần tự giác rất cao nên được cán bộ quản giáo tin tưởng lắm. Vì thế, nhiều khi viên quản giáo bận đi việc này việc nọ, anh ta giao việc đôn đốc, kiểm soát đội cho Hoàng H. kết quả công việc vẫn trôi chảy như thường.

     Các đội viên hàng ngày phải gánh nước từ một dòng suối lên khá xa nơi trồng rau để tưới. Người tù bình thường ăn uống thiếu thốn, sức khỏe yếu kém nhiều nên hầu hết làm việc uể oải lắm. Vì thế khi tưới rau, cứ gặp cơ hội quản giáo và đội trưởng lơ là việc kiểm soát là họ tranh thủ nghỉ lén hoặc chỉ làm lấy lệ đủ che mắt kẻ có thẩm quyền! Nhưng Hoàng H. cũng là tù nên ông ta rất hiểu tâm lý cùng những mánh khóe lánh nặng tìm nhẹ của các bạn tù. Ông ta âm thầm theo dõi cả tư tưởng lẫn việc làm của từng đội viên trong đội để phòng tránh vạ lây nếu có ai đó làm điều không tốt. Ông cũng muốn đội rau xanh do ông điều khiển luôn được khen thưởng, luôn được dẫn đầu trong các cuộc thi đua làm việc. Tinh thần đó đã khiến ông ta chịu vất vả thọc ngón tay xuống từng luống đất đã tưới xong để dò xem mức độ nước đã thấm sâu được bao nhiêu. Nhờ thế ông biết ngay người được giao việc đã tưới thật tình hay tưới giả tạo qua loa. Rất nhiều lần ông buộc những người mà ông cho là tưới dối phải lo đi tưới lại. Người nào ngoan cố không chịu nghe là lập tức bị chính cán bộ quản giáo thân hành đến kiểm soát lại và tận tình “giáo dục”.

     Anh em trong đội rất bực mình Hoàng H. vì chuyện đó. Họ vẫn hay tìm cách để chửi cạnh chửi khoé ông ta.

     Đội cắt riêng hai cặp tù chuyên nhận lãnh việc đi “phi thuyền a pô lô”. Tôi là một trong bốn người đó và bắt cặp với một bạn tù rất trẻ tên Phạm Sơn, thiếu úy cảnh sát mới ra trường chưa lâu. Đi phi thuyền a pô lô là tiếng phổ biến trong trại Z30C hồi ấy dùng để chỉ việc khiêng phân tươi do tù nhân thải ra từ đầu hôm đến buổi sáng còn đang bốc hơi từ trại chính ra khu vực trồng rau xanh của đội. Hai người khiêng một thùng lớn. Người khiêng thường phải dùng vải bịt mồm mũi lại và gắng chạy thật lẹ để giảm thiểu thời gian phải “thưởng thức” mùi phân tươi. Hễ thấy phi thuyền phóng đi là mọi người từ cán bộ đến tù nhân phải lo bịt mũi tránh xa. Chúng tôi vẫn hay đùa với nhau là khi làm công việc này mình cũng còn thể hiện được một chút “oai quyền” thật sự. Trong hai người khiêng, người đi sau thường chịu thiệt thòi hơn nhiều nên chúng tôi phải chia phiên hoặc bốc thăm cho công bằng. Phần phân chao chọng đổ ra, vương vãi, người đi sau thường lãnh đủ, nhất là phần hơi bốc lên người đi sau không thể nào tránh thoát được. Để bù lại những thiệt thòi này, người đi phi thuyền đến hiện trường xong liền được xuống suối tắm giặt thoải mái cả giờ và được nghỉ làm việc những giờ lao động còn lại trong buổi sáng. Trong thời gian làm việc này, chúng tôi đã rút được một kinh nghiệm thực tế: phân người còn tươi đem tưới rau muống rất mau xanh. Tưới gốc bầu lại càng hiệu quả, rất sai trái. Có lẽ đây cũng là kinh nghiệm mà giới lãnh đạo Cộng Sản từng trải qua nên họ đã chủ trương triệt để tận dụng loại phân bắc này. Dĩ nhiên là sau khi tưới phân bắc xong còn phải tưới thêm nước thật nhiều cho loãng nó bớt. Thùng đựng phân bắc không cần mất công rửa. Cứ ngâm xuống suối một lúc là từng đàn cá nhỏ kéo nhau tới rỉa sạch.

     Hôm ấy, khi tôi tắm rửa xong lên nghỉ thì đội cũng vừa lúc nghỉ giải lao. Anh Vũ Xuân Đình, một cựu ký giả báo Chính Luận trước kia xăng xái bước tới vỗ vai tôi hỏi:

     – Này, cậu hay đọc chuyện Tàu, vậy cậu có nhớ chuyện “Người đánh xe của Án Tử” không?

     – Nhớ chứ! – Tôi trả lời.

     – Nhân giờ giải lao kể anh em nghe cho vui đi!

     Tôi hứng chí đã đem câu chuyện trên kể lại một cách trơn tru. Nhưng khi kể xong anh Vũ Xuân Đình cãi:

     – Như vậy là cậu kể sai đoạn chót mất rồi. Người vợ của anh đánh xe cho Án Tử thật sự đã cảm thấy quá nhục nhã vì có người chồng chỉ là một tên tay sai cho người ta mà cứ tưởng mình có oai quyền lớn lắm nên bà đã tự tử chết thảm chứ!

     Tôi không hiểu dụng ý của anh Đình, hơn nữa ở đó cũng chẳng có sách vở gì để làm chứng nên chỉ cười. Nhưng Phạm Sơn ngứa miệng sao đó nó thốt ra:

     – Cái thằng đó phải cho gia đình nó tan nát như vậy là vừa!

     Mấy hôm sau tôi và Phạm Sơn bị viên quản giáo gọi lên để tra hỏi về vụ một buồng chuối của đội bị ăn trộm. Anh ta cứ quả quyết là có người đã thấy rõ tôi và Phạm Sơn bẻ chuối ra từng trái bỏ vào thùng phân mang đi giấu đâu đó để ăn lần. Anh ta cũng nói có người cho biết nhiều lần thấy tôi vừa đi cầu vừa ăn chuối. Tôi nghe nói vô cùng uất ức vì bị lăng nhục quá đáng! Nước mắt tôi trào ra và tôi đã kêu trời với một thái độ sao đó tôi không còn nhớ rõ nhưng tôi biết đã có tác dụng rất mãnh liệt. Trong khi đó Phạm Sơn cũng bừng bừng nộ khí chửi thề ngay trước mặt viên quản giáo:

     – Đ.M tôi thà chết chứ không chịu nổi cái nhục này!

     Viên quản giáo thấy thái độ của chúng tôi liền nói:

     – Thôi, nói cho hai anh biết vậy thôi chứ tôi cũng chẳng bắt tội bắt tình chi hai anh đâu! Tôi rất thông cảm hai anh. Giờ thì hai anh cứ nghỉ ngơi đi, đợi khi đội nghỉ làm ra tập họp để về.

     Nói xong viên quản giáo bỏ đi. Phạm Sơn vẫn chưa nguôi cơn giận, hậm hực nói:

     – Tôi mà biết thằng nào vu cho tôi vụ này thì chết cha nó với tôi!

     Tuy biết sự rắc rối đã qua nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn. Viên quản giáo nói “tôi rất thông cảm hai anh” nhưng thông cảm như thế nào đây? Thông cảm chúng tôi đã bị tên nào đó vu oan hay thông cảm chúng tôi không có thăm nuôi nên sinh lòng làm bậy? Thật sự Phạm Sơn lẫn tôi rất ít được gia đình thăm nuôi. Điều này đã làm tăng nỗi khổ tâm cho chúng tôi, không phải vì thiếu ăn mà vì dễ bị những kẻ thiếu hiểu biết nghi ngờ về nhân cách. Nỗi khổ tâm đó đã làm tôi mất ngủ nhiều đêm…

     Mãi sau này khi đội trưởng Hoàng H. đã được tha tôi mới biết được ai là người đã vu vạ cho chúng tôi và nguyên nhân gây ra vụ vu oan này. Hóa ra trước khi anh Vũ Xuân Đình bảo tôi kể chuyện “Người đánh xe của Án Tử” đã xảy ra một vụ gây gổ nhau giữa anh em trong đội với đội trưởng Hoàng H. Anh Đình đã khéo mượn câu chuyện kể của tôi để bồi cho Hoàng H. thêm một vố. Khi hai bên gây gổ nhau tôi bận đi tắm rửa nên đâu có biết gì. Vì thế nên tôi đã vô tình kể chuyện trên theo lời yêu cầu của anh Đình. Việc đó đã làm Hoàng H. tưởng tôi toa rập với anh Đình để chửi xéo ông ta. Nhiều người trong đội biết rõ chuyện đó nhưng không ai dám nói với Sơn và tôi vì ngại chúng tôi bực mình đòi làm cho ra lẽ thì họ không tránh khỏi bị liên can phiền phức. Bởi thế mãi đến khi Hoàng H. được thả rồi họ mới tiết lộ chuyện. Chắc hẳn Hoàng H. cũng đau lắm nên mới nặng tay với tôi và Phạm Sơn đến thế. Nghĩ lại, tôi rất thông cảm nỗi đau của ông ta khi ông ta bị vận vào vị trí “Người đánh xe của Án Tử”.

     Đời này, hạng người như “Người đánh xe của Án Tử” nhiều không sao đếm xiết. Đáng tiếc là những người vợ hiền đức như vợ người đánh xe ấy lại rất hiếm!

     Trong những quốc gia dân chủ thứ thiệt, hạng đánh xe này nếu có chẳng qua cũng chỉ làm chướng tai gai mắt thiên hạ một tí không đáng kể. Ngược lại, đối với những nước chậm tiến hoặc những nước độc tài Cộng Sản thì hạng đánh xe này vì không có được những người lãnh đạo tài đức xứng đáng để noi gương, cũng không có được những người vợ hiền đức để khuyên răn, cảm hóa, họ đã trở thành một tầng lớp thật đáng sợ. Chúng ta hãy tưởng tượng từ anh du kích địa phương, anh thu thuế ở một chợ nhỏ, cả đến anh đưa thư ở xã thôn nữa cũng đều có quyền nạt nộ, hống hách trừng phạt hay ban ơn ban phước cho đám dân đen xem sao! Ở đấy, hạng đánh xe này đã quả là một loại “phong mề đay” làm ngứa ngáy xã hội cùng cực chưa có thuốc trị!

 

– Ngô Viết Trọng

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.