Hôm nay,  

Cầu mưa ướt áo

07/12/202317:39:00(Xem: 3455)
Truyện

cau mua

Đã hơn cả tuần nay, chiều nào mây cũng giăng xám một góc trời. Mưa không lớn chỉ lất phất bay, đủ ướt phủ mặt đường. Những hình ảnh chập chùng, bao kỷ niệm hiện về lẫn lộn. Khi nhớ khi quên. Có lúc khuôn mặt rõ từng sợi chân mày, từng vết hằn môi ướt. Rồi có lúc chợt thoáng mất, hun hút như chưa lần gặp gỡ trong ký ức. Càng cố gắng bao nhiêu, trí nhớ càng nhạt nhòa tan biến. Đã hết tuổi đời, đã mòn năm tháng? Hay cũng chỉ là dòng trôi tự nhiên của thời gian xuyên qua một đời người thoáng chốc.
    Chừng như tin vui dần ít đi, thay vào đó là những chia xa không tránh khỏi. Điều gì đến phải đến, như bao nhiêu nối tiếp trong chuổi vô cùng của cuộc nhân sinh. Người viết thưa dần và người đọc cũng không còn nhiều nữa. Tay đã mỏi, mắt đã mờ. Khoảng cách thời gian chợt vời vợi, vô cùng. Nhưng khoảng cách không phải là thước đo của tình người. Lại càng không phải thước đo ký ức và dáng hình của kỷ niệm. Chừng như những ngày mưa trong tiềm thức đáng nhớ hơn bao ngày nắng đẹp. Có lẽ mưa luôn mang theo những tiếng động, những âm thanh khua vào nỗi nhớ. Có cơn mưa báo trước và có những cơn mưa bất chợt, tình cờ. Cuộc sống, phải chăng là sự kết hợp nhiệm mầu của những cơn mưa bất chợt, tình cờ không báo trước. Cho tôi và cả cho người...
 
***
                       
Nằm trong con hẻm trên đường Phan Đình Phùng, phía đối diện là chợ Vườn Chuối. Con ngõ vào thật hẹp, chỉ vừa đủ hai chiếc xe gắn máy nhường lách nhau để qua mặt. Tiếng lao xao vọng ra từ những căn nhà thấp chừng như đang chuẩn bị cho buổi ăn chiều. Như bao nhiêu khu lao động khác, càng đi sâu vào con hẻm thì mặt đường nhỏ hẹp hơn. Phía trước cửa nhà này có thể nhìn thấy sinh hoạt bên trong cửa nhà kia. Tôi nhìn lại số nhà ghi trong miếng giấy nhỏ lần nữa, đúng là con hẻm này nhưng vẫn chưa thấy. Con số nhà đến ba lần xuyệt, lại phải rẽ vào một con hẻm nhỏ khác. Cuối cùng tôi cũng đứng trước căn nhà đúng theo số ghi trong miếng giấy nhỏ. Chiếc cổng thấp bạc màu ngăn bên trong cánh cửa gỗ màu xanh khép hờ. Tôi gỏ mạnh vào cánh cửa gỗ hé mở màu xanh nhạt, loang vết nắng mưa. Có hẹn trước nên không phải đợi lâu,  Nhàn đã hiện ra với nụ cười làm sáng khung cửa hẹp. Trong chiếc áo cổ tròn màu xám viền cũ sờn bâu Nhàn có chút gượng ngùng mời tôi vào nhà. Căn nhà nhỏ đầy ấp, ngổn ngang với những chiếc thúng đựng từng gói bún, bánh canh, giò heo, rau thơm đủ loại... đầy cả một góc bàn.
    – Chắc là anh kiếm nhà Nhàn hết cả buổi?
    – Mờ mắt luôn, nhưng cũng chỉ mất hơn năm, mười phút thôi!
    Nhàn kéo chiếc ghế thấp, vừa cười nhẹ:
    – Anh ngồi tạm, nhà chật bề bộn quá...
    Khó có thể tưởng tượng đây là cuộc sống của Nhàn, Trần Thanh Nhàn cô sinh viên năm thứ ba, người đẹp của khoa sử địa sư phạm Sài Gòn. Trong ban tổ chức đêm văn nghệ liên hoan cuối năm, Nhàn phụ trách phần sắp xếp và điều khiển chương trình cho cả hai trường đại học sư phạm - khoa học Sài Gòn kết hợp. Biết mình đẹp, kiêu kỳ có chút lạnh lùng nên bề ngoài khó ai gần gũi và Nhàn cũng không muốn gần gũi ai! Suốt thời gian tập dợt, sắp đặt chương trình tôi cũng không mấy bận tâm đến cô gái đẹp khó ưa này. Vậy mà vài tuần lễ sau tôi và Nhàn lại có dịp gần, quen thân nhau. Có lẽ thấy bản mặt khờ khạo, biết thân biết phận của tôi nên Nhàn cho qua ải "trai gái" thường tình. Có vài lần tập trễ Nhàn "có giang" tôi đưa về. Cũng tiện đường, Nhàn ở Vườn Chuối tôi ở Bàn Cờ cùng con đường Phan Đình Phùng. Tôi và Nhàn quen nhau từ đó.
    Trong bạn bè thân quen, rất ít người được Nhàn cho đến nhà. Có lẽ vì mặc cảm? Có lẽ vì Nhàn chưa muốn để tình bạn đi xa hơn trong cuộc sống? Cũng có thể không có lý do gì, mà đó chỉ là Nhàn? Tôi không biết chắc và cũng chẳng bận tâm. Nhàn đã hẹn và cho tôi địa chỉ nhà nàng, để ghé đến hôm nay.
    – Anh giúp Nhàn một tay đi! Nhàn vừa nói vừa chỉ tay vào thúng giò thịt heo đầy ấp. Bước vào trong là chiếc tủ thờ với bức ảnh người sĩ quan có khuôn mặt cương nghị, tôi đoán đó là cha Nhàn. Đôi ba lần nàng nói đến cha, người sĩ quan binh chủng thiết giáp đã hy sinh hơn mười năm trước đây. Mẹ Nhàn ở vậy, nuôi dưỡng mấy chị em bằng quán bún rêu, bánh canh bên hông chợ Vườn Chuối, quận 3... Phía cuối căn nhà là khoảng sân hẹp với chiếc nồi lớn đang nấu lửa than. Buổi trưa trời nóng lại càng nóng thêm hừng hực. Tiếng nước sôi lớn vang lên từ hai chiếc nồi lớn, đầy lửa than. Tôi giúp Nhàn cho từng thúng thịt và giò heo vào nồi nước đang sôi. Như hai con người, như hai cuộc đời phải đốt quyện vào nhau để thành cuộc sống thật.
    – Nóng lắm, anh vào trong kia  cho mát, để em. Nhàn đẩy tôi vào phía trong hiên nhà. Khoảng sân hẹp như lò lửa. Đây là cuộc sống thật của Nhàn. Không trách gì thái độ thờ ơ lạnh nhạt của Nhàn đối với cuộc sống, tình đời chung quanh. Không ai chọn cho mình số phận, bởi số phận đã là mỗi phần đời dành sẵn cho ta?  Cứ vậy mà sống, mà nối kết những hoàn cảnh hết một kiếp người..? Đứng lặng nhìn Nhàn loay xoay với bếp than hồng rực lửa, tôi nghe lòng quặn thắt nỗi buồn thương.
    – Anh sao vậy? Tiếng của Nhàn khiến tôi giật mình, ý thức cảnh vật nhạt nhòa giữa buổi xế trưa.
    – Khói than vừa nóng vừa cay mắt... Đang ấp úng, thì vài ngón tay của nàng đã chùi dòng nước lưng tròng trong mắt tôi.  
    – Đàn ông con trai gì mà "mít ướt" quá! Giọng nói, hơi thở của Nhàn thật gần, thật gần đủ để tôi cảm nhận được bờ môi con gái thắm đậm quanh đây... Nụ hôn thoáng chốc, tình cờ. Tôi muốn nói với Nhàn điều gì đó, nhưng lại thôi. Có cần thiết hay không? Hay cũng chỉ là thứ ngôn ngữ dư thừa, bất lực trước những mảnh vỡ của đời sống? Dưng không tôi chợt thèm một cơn mưa. Trong nỗi thiết tha, ngần ngại tôi khẩn cầu trời đổ một cơn mưa. Cơn mưa thắm ướt mắt tôi những dòng hạt mặn. Cơn mưa thấm ướt áo em, thấm ướt tóc em cho dài nhung nhớ. Đâu đây có tiếng hát ai như ru khoảng không gian của tôi, của Nhàn:  

"Này em đã khóc trời mưa nín câm,
Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu
Em đi về cầu mưa ướt áo
Đường phượng bay mù không lối vào, hàng cây lá xanh gần với nhau..." (1)
 
Khóa học chính trị của đại học sư phạm đã bắt đầu hai tuần, nhưng vẫn chưa thấy Nhàn tham dự. Theo thông báo trường, sinh viên không "đăng ký" khóa học này sẽ bị xóa tên trong danh sách đào tạo của trường. Rất nhiều sinh viên vắng mặt vì nhiều lý do khác nhau. Đã di tản ra khỏi Việt Nam, bỏ học trở  về quê sinh sống, gia đình không còn đủ điều kiện tiếp tục việc học, v.v... Không khí bát nháo, bẩn bựa tràn ngập trong mọi sinh hoạt tại các trường đại học Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975. Chính quyền mới đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Kể cả tên nhiều con đường quen thuộc cũng mang một tên mới, nhiều lúc thật xa lạ. Đường Phan Đình Phùng thuộc quận 3, nơi tôi ở trọ và nhà của Nhàn, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu. Không đành lòng hơn nữa, tôi cố tình ghé lại nhà Nhàn trong con hẽm nhỏ. Vẫn chật hẹp, quanh co nhưng nay yên vắng hơn nhiều. Cánh cửa khép kín và không còn mùi bếp lửa, mùi thơm của bột gạo bay ra. Gõ cửa, là người đàn ông xa lạ trả lời. Hỏi nhanh, mới biết gia đình Nhàn đã dọn về quê ngoại ở Bến Tre. Chỉ biết có vậy... Số phận con người quá nhỏ nhoi với thời cuộc. Cuộc sống không còn có lựa chọn nào khác hơn là sự chấp nhận và phải sống. Nhiều ngày tôi bó gối trên căn gác chật hẹp, nghe "đạo ca" của Phạm Duy để buông thả, không nghĩ ngợi gì với chung quanh. Nhưng tất cả đều là tạm bợ. Cuộc sống thật đang từng giây từng phút xô đẩy con người vào vòng xoáy chung quanh. Những ngày trống rỗng này, tôi chợt nhớ Nhàn vô cùng... Buổi chiều cuối tháng Năm trời hanh nắng gắt rồi chợt ào cơn mưa bất chợt. Tôi nghe lòng thoáng buồn, nuối tiếc bâng quơ.       
 
***
 
Thời gian chảy "đá mòn sông núi lở", cuốn trôi bao số phận đời người. Kỷ niệm như những cụm lục bình trôi mênh mông trên dòng sông ký ức. Có cụm nở hoa, có cụm chỉ đơm chồi xanh bóng nước. Hoa lục bình màu tím, hoa kỷ niệm không sắc màu năm tháng. Đời sống lặng lẽ xuôi theo số phận đến cuối cuộc trăm năm. Hạnh phúc khổ đau, may mắn hay bất hạnh vẫn là hai mặt làm nên đời sống. Nhưng điều đáng sợ hơn mọi bất hạnh, khổ đau là sự hờ hững, dững dưng giữa cuộc hệ lụy đời thường. Kiếp người như dòng sông chảy xuôi, mãi mãi không bao giờ trở lại nơi xuất phát. Đôi khi tình yêu không là cuộc tình, mà chỉ là một dấu môi xưa... Những ngày cuối năm có nhiều bất chợt cơn mưa chiều. Những cơn mưa lạnh và buồn. Những cơn mưa bay qua cuộc đời, tình cờ không để lại nỗi niềm cho mùa mưa sắp tới. Không gian vận chuyển tuần hoàn, sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có lòng người thắm đọng. Con hẽm nhỏ ngày xưa không còn nữa. Đã phôi phai với thời gian, với những dãy phố cao che khuất mặt người. Có lần tôi đã trở về, đứng tần ngần cố tìm quanh quẩn bóng dáng của người năm cũ. Cuộc sống vẫn cuộn trôi, dòng người vẫn còn đó. Chỉ có thời gian là biền biệt không về. Một lần đối mặt thân quen và cả đời không gặp lại. Thôi thì mỗi số phận con người đành gửi theo từng lựa chọn. Mà có lựa chọn nào mà không mất mát bao giờ? Để nhiều lúc hay cả một đời người ta không có lựa chọn nào, ngoài sự chấp nhập. Để sống, để xuôi hết một kiếp người. Một lời chưa kịp nói, xin mãi giữ lại cho kiếp mai này.
 
"Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho trăng nép sau hè
Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho hoa nắng phai màu
Hai đứa mến nhau
Mối tình tha thiết trao nhau
Hẹn đến ngày bạc mái đầu... "  (2) 
 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1) Mưa Hồng – Trịnh Công Sơn

(2) Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé! – Anh Bằng & Lê Dinh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.