Hôm nay,  

Bóng hình năm cũ

15/02/202410:26:00(Xem: 3054)
Truyện

vinhlong

... Hello darkness, my old friend

I've come to talk with you again

Because a vision softly creeping

Left its seeds while I was sleeping

And the vision that was planted in my brain

Still remains

Within the sound of silence

In restless dreams I walked alone... (1)

 

Tiếng hát khàn đục, nghẹn ngào của người ca sĩ da đen phát ra từ chiếc loa nhỏ, cũ kỷ tình cờ ở một góc đường thành phố New York. Họ là những ca sĩ đường phố, hát lang thang đây đó để bán những đĩa hát của mình. Đôi mắt nhắm nghiền, những vết nhăn nhún trên khuôn mặt đen sạm nắng bụi thời gian, tiếng hát chừng như đang dỗ dành, kể lể với thân phận của chính mình. Tiếng hát như níu chân trái tim của bạn lại. Tiếng hát như mời mọc tâm hồn bạn với khoảnh khắc một đời người. Vậy mà bao nhiêu người vẫn thản nhiên đi qua, dửng dưng như trong không gian chung quanh không hề có một âm vang vọng lại. Tiếng hát chấm dứt như một tiếng thở dài không dứt.Tôi đã nghe rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát bài nầy, nhưng đây là lần tôi xúc động vô cùng với giọng ca của người ca sĩ đường phố. Tiếng hát đẩy tôi thật xa, thật xa trong vùng tận cùng của ký ức, trong một khung trời của dĩ vãng ngỡ chôn sâu... 
    Khoảng hơn mười giờ, chuyến xe dừng lại bến phà Mỹ Thuận. Tôi ló đầu ra cửa, điệu này chắc phải cả tiếng đồng hồ mới qua được phà. Hai mươi tám Tết, không khí thật ồn ào, nhộn nhịp. Tiếng còi xe, tiếng rao hàng, tiếng mời gọi nức vang dọc theo dãy hàng quán bên đường. Trong cảnh rộn ràng của những ngày cận Tết, không khí chiến tranh cũng không lắng dịu chút nào. Những đoàn xe nhà binh che đậy bít bùng, từng đoàn đang chạy vội vã, vang dậy tiếng còi inh ỏi, thúc dục. Cảnh sát, lính địa phương từng tốp xuôi ngược theo dòng người dọc hai bên đường, mắt gườm gườm, quan sát sẵn sang cho mọi bất trắc. Gói mười ổ bánh mì Sài-gòn, được tôi treo cẩn thận trước khi quảy chiếc túi vải xuống xe. Đây là món không thể thiếu mỗi lần tôi về thăm nhà.Bánh mì ở đâu cũng có, vậy mà phải là bánh mì Sài Gòn mới được.Quà cho nhà, cho bà con chòm xóm. Mẹ tôi nói, bánh mì Sài Gòn ăn không cũng ngon. Tôi thì không thấy như vậy. Bánh mì Sài Gòn hay bánh mì Vĩnh Long, Cái Bè tôi ăn cũng thấy như nhau! Mẹ và bà con quê nội nói, chắc tại tôi ăn bánh mì Sài Gòn mấy năm nay nên quen miệng, không thấy khác. Chứ thật sự, bánh mì Sài Gòn rất đặc biệt, có mùi thơm và độ giòn rất là Sài Gòn, chỉ có bánh mì Sài Gòn mới có. Tôi tin mẹ và bà con quê nội nói đúng. Ly cà-phê và cái bánh tiêu hồi sáng sớm vẫn còn no bụng. Thôi thì đợi trưa tới Vĩnh Long ăn luôn trước khi xuống đò về nhà nội... Những chuyến xe về quê cuối năm người đông như nấm, đi bộ phải lách phải luồn mới không đụng vai chạm tay. Dưa hấu màu xanh thẳm, bóng lưỡng chất đống dọc hai bên đường.Rồi thì mứt, đủ loại đủ màu, bày cùng khắp trong bọc, trong những hộp bao giấy kiếng thật đẹp và bắt mắt. Tiếng mời mọc, nỳ nèo giá cả, tiếng cười nói rộn ràng một không khí Tết gần kề. Đó là chưa kể mùi hủ tiếu, cháo lòng, mùi thịt nướng thơm lừng... quyện kín cả vùng. Tôi thương vô cùng không khí cuộc sống hai bên bờ phà Mỹ Thuận, bận về cũng như bận đi. Có cái gì đó bịn rịn quê nhà khi sang phà, trước khi vào Sài Gòn. Có cái gì rộn ràng cho nửa đoạn đường gần quê nhà hơn, khi bước chân lên chuyến phà qua bên kia bờ chờ đợi. Tôi sẽ thấy hình dáng của mẹ gần hơn.
    Tiếng còi xe vang dậy, kềm theo từng đoàn người tất bật ngược dòng. Chắc phà vừa cập bến. Tôi thấy hơi khát, định ghé vào mua một bọc nước mía cầm theo. Chợt đâu văng vẳng trong tiếng ồn ào, náo nhiệt của bến phà vang lên tiếng đàn với nhịp điệu quen tai. Tôi khựng người, lắng nghe. Tiếng đàn gần, gần dần và quyện trong tiếng hát giọng nữ ngọt buồn:
 
“... Mưa ơi! Mưa ơi!
Mưa gieo sầu nhân thế
Mưa nhớ ai,
biết người thương có còn nhớ hay quên
Riêng ta vẫn u hoài
Đêm đêm tiếp đêm nhớ mong người
Đã cách xa...”  (2)
 
Người con gái dáng gầy gò, chiếc áo màu xanh đậm bạc màu, một tay cầm chiếc nón lá rách vành, tay kia cầm chiếc gậy theo sau là người đàn ông ôm đàn thùng, đeo kiếng sậm đen. Tiếng hát ngân dài dịu vợi, bơ vơ  trong tiếng ồn ào, nhộn nhịp bao cuộc đời xuôi ngược chung quanh. Vài người khách bộ hành dừng lại nhìn cô gái, rồi bỏ vội vào chiếc nón lá rách vành những tờ giấy bạc vô tình. Âm vang cuối cùng của bài hát đã dứt, khoảng lặng yên như xô đẩy dòng người dòng đời náo nhiệt hơn lên. Tiếng từng phím đàn lại rão lên một bài hát khác. Người con gái ngẩn mặt lên, dưới mái tóc bồng bềnh biếng chảy là đôi mắt, đôi mắt u hoài như chẳng nhìn ai, sao xé thịt da người. Đôi môi tuổi xuân thì, cũng phơn phớt hồng cất giọng, bất chấp gian truân hằn sâu trên khóe mắt: 
 
“Mưa rừng ơi, mưa rừng!
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời
Mưa sầu vì lòng người
Duyên kiếp không lâu...”  (3)
 
Tiếng hát thơ ngây sao vọng nỗi u hoài trong không gian rộn rã vây quanh. Tiếng hát như bóp chặc mỗi nhịp đập tim tôi, giữa mùa gió trở. Tiếng còi xe bất chợt kéo tôi về thực tại. Chuyến xe tôi đang chuyển bánh về phía bến phà. Tôi móc vội những tờ giấy bạc trong túi, những tờ giấy bạc dành dụm suốt năm dạy kèm trong đáy xách vải. Đi nhanh về phía tiếng hát, tôi bỏ tất cả nắm giấy bạc và cả tấm lòng mình vào chiếc nón lá rách vành. Tiếng hát bất thần im bặt giữa nhịp đàn. Dưới đôi chân mày đen rậm, ánh mắt ngưởi con gái thoáng kinh ngạc, chút bừng vui.  Tôi quay đi nhanh, chạy theo chuyến xe hướng về phía trước. Trong bước chân vội như trốn, tôi chợt ngoái đầu lại tự dưng, để bắt gặp lại đôi mắt thoáng hiện nụ cười cuối khóe nhẹ tênh... Chuyến phà rời bến, thổi hơi nước trong khứu giác tôi rộng mở. Tôi muốn la to lên niềm hạnh phúc vỡ bờ. Tôi cũng quên mất, trong người tôi trống rỗng, không còn gì cả. Không tiền để ăn trưa, không tiền cho chuyến đò về nhà nội. Mà cần gì, trong tôi đang căng đầy hạnh phúc; căng đầy mọi nỗi niềm, đầy ấp ánh mắt, bóng hình của người con gái hát dạo ở lại bên kia bến phà Mỹ Thuận.   
 
***
 
Rất nhiều năm, nhiều năm sau nầy, trên chuyến xe về thăm lại quê nhà, tôi nói với người lái xe dừng lại dưới chân cầu Mỹ Thuận. Thời gian không ngừng lại chờ ai. Cuộc sống không ngừng trôi trong mọi kiếp người hữu hạn. Tóc tôi đã bạc màu năm tháng. Đất nước, quê hương tôi vẫn đang thay đổi "chóng mặt" từng ngày. Trước mắt tôi là hiện tại. Những gì tôi nhớ, tôi muốn tìm là quá khứ, là những vùng ký ức chìm sâu. Dọc hai bên đường là những công trình đang xây cất, là những tấm bảng quảng cáo đầy màu sắc của hôm nay. Thỉnh thoảng có vài tán dù bày bán những chai nước uống, bánh trái lẻ loi. Chân cầu Mỹ Thuận đã hiện ra phía trước. Chiếc xe chậm lại, người tài xế trẻ quay qua tôi:
    – Đây là điểm gần nhất em có thể dừng xe cho chú.
    Đó là một trạm xăng Petrolimex. Bên hông trạm xăng, phía ngoài là một quán ăn nhỏ. Chiếc xe dừng và tắt máy trước cửa quán. Tất cả lục đục xuống xe, bà xã tôi nói:
    – Mọi người vào quán uống nước, để ông ấy đi chụp vài bức ảnh.
    Quá quen tính bốc đồng, cũng như những cảm xúc riêng tư, bà xã rất tôn trọng giây phút “một mình” của tôi. Đi dọc theo lối cỏ ven đường, tôi đã nhìn thấy những sợi cáp treo của cầu Mỹ Thuận. Đã thấy xa xa mặt nước sông Tiền nâu sậm và mùi hơi nước thoảng trong gió lùa. Cảnh vật không còn chút gì để nhận ra, nhưng bầu trời vẫn xanh với từng cụm mây trắng lơ lững như ngày nào. Và hương vị, cái hương vị của quê tôi cũng không hề thay đổi. Mùi hanh hanh của nắng, mùi ngây ngây của hương đồng cỏ nội, mùi hơi nước nồng tênh phả vào từ phía ven sông. Mùi vị mà không bất cứ vùng đất nước nào tôi đã sống, đã đi qua có được. Mùi vị của quê hương tôi! Mỗi bước chân tôi như đang đi ngược về quá khứ. Ánh mắt tôi như chợt nhạt nhòa những hình bóng của ngày xưa. Những chuyến phà ngang, những dòng đời xuôi ngược và... một ánh mắt. Ánh mắt của tiếng hát một đời tôi cứ hệ lụy, cưu mang. Họ là ai? Người con gái hát dạo ngày đó là ai? Tên gì? Hay cũng chỉ là một cái tên trên đường đời muôn vạn nẽo. Về đâu, hởi người con gái một lần tôi gặp giữa trời miên viễn? Họ còn hay mất, có ai nghĩ đến, đoái hoài? Người con gái ngày nào có còn nhớ đến tấm lòng, tôi đã bỏ lại trong chiếc nón lá rách vành một chuyến qua sông? Buổi chiều rơi nhè nhẹ, như vẳng lại đâu đây tiếng hát mơ hồ, hư thực.Tiếng hát của ai? Tiếng hát tôi tâm tưởng hay tiếng người con gái hát dạo ngày xưa của bến phà Mỹ Thuận: 

 

“... Mưa rừng ơi! Mưa rừng

Tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa

Mỗi khi mưa rừng về muộn màng

Bóng chiều về dần tàn

Lòng thương nhớ nào nguôi...”  (3)

 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1)  The Sound of Silence – Paul Simon

(2)  Lạnh Trọn Đêm Mưa – Huỳnh Anh

(3)  Mưa Rừng – Huỳnh Anh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.