Hôm nay,  

Một chút cảm nhận

18/02/202410:36:00(Xem: 3074)

Screenshot 2024-02-13 080940



Đọc xong hai quyển “Theo dấu thư hương” và “Chỉ là đồ chơi” của nhà văn Trịnh Y Thư đã lâu, trong lòng cảm hứng muốn viết một chút cảm nhận nhưng cứ bận bịu nên lần lữa mãi. Thật ra mà nói thì tôi cũng không biết viết như thế nào và bắt đầu từ đâu, đây là lần đầu làm cái việc viết cảm nhận về sách. Tôi biết mình không có khả năng đọc sâu, nhìn nhận hay phân tích. Tôi xưa nay vốn đơn thuần dùng cảm tính chứ chẳng biết dùng lý tính nên cứ mơ hồ ngu ngơ.
    Việc nhận định một tác phẩm hay một quyển sách đòi hỏi người viết phải đọc kỹ, kiến văn quảng bác, biết lý luận, phân tích và cần có công tâm, bản lãnh. Một điều rất quan trọng nữa là phải lương thiện, không vì phe ta mà bốc thơm, áo thụng vái nhau. Không vì không thuộc phe ta mà chê bai hay phủ nhận cái hay của người. Việc nhận định, phê bình một quyển sách là một việc làm khó, rất khó, dễ gây thù chuốc oán với tác giả. Ấy vậy mà sau khi đọc xong “Theo dấu thư hương” và “Chỉ là đồ chơi” thì tôi rất khâm phục anh Trịnh Y Thư. Anh đã làm được cái việc khó khăn này một cách xuất sắc. Nhờ đọc những phân tích, nhận định của anh mà tôi hiểu thêm nhiều điều, thấy thêm những mặt khuất mà khi đọc những tác phẩm ấy đã không nhận ra.
    Hai chữ “Thư hương” rất hay, rất đẹp, gợi lên trong tâm trí chúng ta một chút hoài niệm của một thời. Ngày xưa những anh học trò, nho sinh, người biết chữ, người đọc sách, người võ vẽ về căn chương… đều được cho là “Nòi thư hương”. Chữ Nho có câu: “Vạn bang giai hạ phẩm/ duy hữu độc thư cao” là vậy. Với người xưa, phàm những ai dính dáng đến chữ nghĩa, văn thơ, sách vở… đều rất được tôn trọng, cho là cao quý, cho dù đó chỉ là anh học trò nghèo. Hai chữ “Thư hương” cũng đồng nghĩa cốt cách Nho gia. Ngày xưa những nhà Nho thanh bạch học chữ, đọc sách để dưỡng tâm, luyện chí chứ không phải để làm quan hay mưu cầu công danh. Khi nhà phê bình văn học Trịnh Y Thư chọn cái tựa sách “Theo dấu thư hương” thì lập tức tự nhiên thấy thân thương chi lạ cho dù chưa đọc đến nội dung.
    Quyển thứ hai “Chỉ là đồ chơi”, tên sách khiến tôi liên tưởng đến thi sĩ Bùi Giáng. Ông ấy luôn miệng bảo rằng: “Chơi thôi mà” mỗi khi có ai khen hay tán thưởng thơ ông. Ừ, thì có sá gì, chỉ là đồ chơi thôi mà! Sách vở, văn thơ, chữ nghĩa… là đồ chơi của những người mang nghiệp viết lách, sá gì lời khen hay chê. Đòi mấy mươi năm ấm lạnh cũng chỉ là một cuộc chơi, nhân tình thế thái là một cuộc chơi của tâm thức. Quốc gia là cuộc chơi quyền biến. Thế giới và vũ trụ cũng là một cuộc chơi của tụ tán và tuần hoàn. Vậy thì sách vở văn chương kia có ý nghĩa gì? cũng chí là món đồ chơi, những món đồ chơi được nặn ra bởi tim óc và tâm ý của những thi sĩ, văn sĩ. Những món đồ chơi hao hơi tổn lực, lao tâm khổ trí rất nhiều. Những món đồ chơi chứa đựng cả một trời tâm sự buồn-vui và bao nhiêu sắc thái khác của tâm hồn. Những món đồ chơi tuy không hề có dụng ý “Văn dĩ tải đao” nhưng tự thân nó cũng đã chuyển tải và bao hàm rồi, có thể nhiều-ít, hoặc vô tình hay cố ý. Thế giới muôn loài, duy chỉ loài người mới có tri giác, có văn tự. Chỉ có loài người mới biết chế ra và thưởng lãm những món đồ chơi ấy!
    Đọc xong cả hai quyển sách, cảm nhận đầu tiên của tôi choáng ngợp trước sức đọc và tầm mức đa văn túc trí của anh Trịnh Y Thư. Anh đọc và quán xuyến rất nhiều tác phẩm văn học cả phương đông lẫn phương tây, không chỉ những tác phẩm danh tiếng, tác phẩm đoạt giải thưởng lớn mà ngay cả những tác phẩm đã lặng yên phần nào với thời gian. Anh đọc rộng rãi từ văn học cổ điển cho đến hiện đại và những trào lưu mới nhất của Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Nhật... dĩ nhiên là cả Việt Nam.
Điểm thứ hai tôi cảm nhận là ngòi bút phê bình, nhận định của anh rất sắc bén và sâu sát. Lời bàn thấu tình đạt lý, không dùng từ ngữ đao to búa lớn, khen chê chừng mực, không cực đoan, thuần túy bình yếu tố văn, ngôn ngữ, bút pháp…
    Tôi đã đọc qua tiểu thuyết Jane Eyre của Charlotte Bronte, tuy nhiên đọc một cách hời hợt và nhảy cóc, mãi đến khi đọc những nhận định của anh Trịnh Y Thư thì tôi mới thấy thêm nhiều điều mới mẻ, mới cảm nhận sâu hơn một chút về Jane Eyre. Cái xã hội Anh ở thế kỷ XIX cũng như trước đó quả thật vô cùng nghiệt ngã. Người phụ nữ phải sống như cây tầm gởi. Cả ba chị em nhà Charlotte Bronte viết sách mà không dám dùng tên thật của mình, phải giả một cái tên đàn ông để in sách. Jane Eyre và cũng là chính tác giả đã dũng cảm đương đầu với những định kiến và định chế xã hội để có một chỗ đứng độc lập. Cái xã hội ấy sao mà giống hệt cái hoàn cảnh của xã hội phong kiến Việt Nam. Thời ấy người phụ nữ chỉ có bổn phận bếp núc thêu thùa hoặc là “gái trong kim chỉ trai ngoài bút nghiên”. Cái tư tưởng phong kiến này hoàn toàn ăn ý với cái tư tưởng nam quyền của xã hội Anh thời ấy. Thi sĩ Robert Southey đã trả lời Charlotte như sau: “Văn chương không thể là công việc trong đời sống người phụ nữ, và không nên biến nó thành như thế...” Nữ văn sĩ Charlotte Bronte khi viết Jane Eyre đã làm nên một cuộc cách mạng nữ quyền  thông qua câu chuyện một cô gái mồ côi, nghèo khổ, không nhan sắc nhưng đã vươn lên bằng nghị lực, thông minh và ý chí của mình; đã tự định đoạt tương lai của mình. Đọc Jane Eyre ta cảm nhận ấy chính là tự truyện của tác giả. Đọc xong tôi cũng liên tưởng đến trường hợp Hồ Xuân Hương của Việt Nam ta.
    Ở bài phân tích và nhận định về quyển “Đời nhẹ khôn kham” của Milan Kundera. Trịnh Y Thư mở ra cho chúng ta thấy một khía cạnh khác. Anh trích dẫn câu nói của Milan Kundera: “Tiểu thuyết gia không phải là người hầu của sử gia” điều này cho thấy lịch sử chính trị chỉ là bối cảnh. Tôi cảm nhận cả dịch giả và tác giả đều chống lại chủ thuyết luận đề trong văn chương, không chấp nhận văn chương là một văn bản tuyên truyền chính trị. Tôi nhận thấy Trịnh Y Thư rất dị ứng với lối văn dính vào chính trị, tuyên truyền chính trị và anh cũng không thích cái lối “Văn dĩ tải đạo”. Ấy là một trong nhiều lý do mà anh rất thích và mến mộ Milan Kundera.

    Khi dịch quyển “Huyền thoại mùa thu” của Jim Harrison, Trịnh Y Thư đã giúp cho chúng ta biết đây là một câu chuyện thuật lại bằng bút pháp đặc biệt, giọng văn giản dị, không dùng ý niệm siêu hình hay trừu tượng. Jim Harrison cùng với nhiều người khác đã định hình cho một diện mạo phong phú và đa dạng của văn xuôi Mỹ. Jim Harrison còn là một thi sĩ và ông đã sống trọn đời cho văn chương nghệ thuật.
    Cũng trong quyển “Theo dấu thư hương” này, Trịnh Y Thư giúp “khai mở” một góc độ nào đó cho độc giả khi đọc văn của Cung Tích Biền, Ngô Thế Vinh, Trần Vũ, Nguyễn Thanh Việt… và thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Lương Vỵ, Khế Iêm... Ở đây tôi chỉ nói cái cảm nhận riêng của mình, có thể hợp với người này nhưng không hợp với người khác, thậm chí rất “tào lao” hay “tầm phào” với ai đó… Quý vị hãy đọc “Theo dấu thư hương” để thấy một dịch giả tài hoa như thế nào, một nhà phê bình sâu sắc như thế nào.
    Giới văn nghệ sĩ vẫn thường bảo nhau Trịnh Y Thư còn là một tay guitar xuất sắc, ngoài viết văn làm thơ, dịch thuật anh thường đắm mình trong những cung bậc guitar cổ điển. Khi đọc bài văn anh viết về nhạc sĩ Lê Văn Khoa, nhất là khi anh nhận định và phân tích khúc giao hưởng “Symphony Viet Nam 1975” thì độc giả có thể mường tượng ra kiến thức về nhạc lý, đôi tai thẩm âm của anh vi diệu như thế nào. Anh phân tích từng hành khúc, chỉ ra sự kết hợp của nhạc ngũ cung Việt với nhạc cụ phương tây, bấy giờ độc giả chỉ còn biết ngẩn ngơ ra trước sự thẩm âm thượng thừa của một tay guitarist điêu luyện. Anh dẫn dắt độc giả đi từ hành âm thứ nhất với âm hưởng dân ca “Trèo lên quán dốc”, hành âm thứ hai “Đám rước”, hành âm thứ ba “Hội hè”, hành âm thứ tư “trăng rằm”… Anh đã kết luận khi nghe xong khúc giao hưởng “Symphony Viet Nam 1975” rằng: “ Đấy là human spirit… Tôi nhận ra khát vọng muốn sống của con người, con người nói chung, không riêng gì con người Việt Nam. Sống như một con người. Một con người tự do”.
    Cũng trong quyển “Chỉ là đồ chơi” anh biểu tỏ cái nhìn của anh về hội họa, cụ thể qua những tác phẩm của họa sĩ Nguyên Khai. Ở bức tranh “Âm nhạc xanh” anh viết: “... La đà. Vô định. Dật dờ. Nào biết về đâu. Nào biết đâu là thủy, đâu là chung. Như cái hư vô của trời đất. Như cái bóng của thời gian...” Bức tranh với gam màu xanh thẫm làm nền gợi nhớ nỗi buồn vô hạn, trên ấy loáng thoáng những vệt sáng như bóng nước, như bông gòn lại như tuyết phất phơ… Ở bức tranh “Cũng có nhà thờ Đức Bà ở New York”, anh giúp độc giả hiểu một cách đại khái về ý nghĩa bức tranh. Anh viết: “Trơ trọi, ngơ ngác – nằm lạc lõng giữa trùng vây những tòa nhà chọc trời New York... Nhưng chẳng mấy chốc tiếng gọi từ vô thức bỗng vọng về khiến người xem tranh sực nhớ ra nỗi buồn vẫn nằm sâu trong tiềm thức”. Tất nhiên là mỗi người có cái cảm nhận khác nhau, những gì anh phân tích chỉ là gợi ý cho những ai vốn không phải là người am hiểu nghệ thuật. Tôi cũng vậy, một kẻ mù trong nghệ thuật, nhiều khi yêu thích là vậy nhưng đứng trước một bức tranh trừu tượng, lập thể, siêu hình… thì chịu chết, chẳng biết gì, chẳng hiểu gì, chẳng thấy điều họa sĩ gởi gắm trong ấy. Rồi khi anh xem tác phẩm “Cổng vườn xưa” của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, anh đã chỉ ra cách bố cục, phối màu và những ẩn ý trong tranh. Anh nhận xét: “Bức họa được phân bố hài hòa, tinh tế, bố cục không gian cân xứng chuẩn mực, màu sắc xướng họa nhịp nhàng...” Đọc những phân tích của anh tôi cũng chút ít nhìn ra được cái đẹp của bức họa.  Người ta thường bảo “Người Hà Nội tinh tế” và bây giờ thì tôi thấy chất tinh tế rất Hà Nội ở anh Trịnh Y Thư.
    Đọc xong hai quyển sách anh tặng, tôi ngẩn ngơ và thấy ngợp trước một con người quá giỏi và đa năng, mặt nào cũng xuất sắc. Anh lại là người khá thâm trầm dí dỏm. Tôi cũng cảm nhận anh không thích “thể hiện” mình nơi ồn ào đông đảo, có lẽ anh rất tự tại khi ở một mình trong căn phòng với cây guitar hay với cây bút. Tôi vốn là người lớp sau, chỉ vì yêu thích văn chương nên võ vẽ viết nhì nhằng chẳng ra gì. Những dòng chữ cảm nhận này là thật từ tâm ý, là sự khâm phục của bản thân. Văn học nghệ thuật hải ngoại vốn có nhiều nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… nhưng thiếu những nhà phê bình văn học, thiếu người thẩm định và điểm sách… Anh Trịnh Y Thư mà một trong số những người hiếm hoi vậy.
    Nhờ đọc những nhận định và phê bình của anh Trịnh Y Thư mà tôi hiểu hơn một chút về những tác phẩm-tác giả ở trong hai quyển “Theo dấu thư hương” và “ Chỉ là đồ chơi”. Nói theo kiểu nữ văn sĩ Virginia Woolf là nhờ những nhận định phê bình của anh đã dắt độc giả vào những cung bậc mới trong tác phẩm mà khi chúng ta đọc hời hợt đã không nhận ra. Dĩ nhiên là khi tôi đọc sách tôi có quan điểm riêng của tôi, không phải tất cả những nhận định và phê bình của anh làm cho tôi hài lòng.
    Điểm thứ ba tôi cảm nhận sau khi đọc xong hai quyển sách “Theo dấu thư hương” và “Chỉ là đồ chơi” là trình độ dịch thuật của anh Trịnh Y Thư rất xuất sắc, một dịch giả tài năng và tài hoa. Trình độ Anh ngữ chuẩn, kiến thức phong phú, cái nhìn sâu sắc. Anh là một dịch giả uy tín và hàng đầu hiện nay. Tôi khâm phục anh, một bậc đàn anh, bậc thầy trong làng văn chương chữ nghĩa không chỉ hải ngoại mà bao hàm cả quốc nội. Tiếng tăm và uy tín đã được nhiều nhà xuất bản tin tưởng mời cộng tác. Đây cũng là ấn chứng cho trình độ, năng lực của anh, một nhà văn, một nhà thơ, một nhà phê bình văn học, một dịch giả xuất sắc.


– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 02/2024
                                                                                                                                                                                         

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.