Hôm nay,  

Dòng Thơ Trần Hoàng Vy

04/05/202407:56:00(Xem: 3034)
Tập thơ của Trần Hoàng Vy

Cầm trên tay tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” của anh Trần Hoàng Vy gởi tặng mà thấy vui chi lạ. Tập thơ đẹp, trang nhã và tươi rói như còn thơm mùi mực. Tập thơ dày 148, được ấn hành bởi nhà xuất bản Nhân Ảnh, tháng 4/2024.
    Trần Hoàng Vy là một cây bút sung sức, viết từ lứa tuổi học sinh-sinh viên của thời VNCH. Anh từng cộng tác viết bài cho các báo thời ấy như: Tin sáng, Sóng Thần, Điện Tín, Văn Học, Phương Đông… Sau 1975 anh vẫn tiếp tục viết, miệt mài viết và viết ra đến hải ngoại. Bài của anh đăng trên: Trẻ, Việt Báo, Người Việt… và các trang mạng như: New Viet Art, Văn Chươgn Việt, T-Vấn… Anh viết đủ các đề tài từ văn, thơ, tiểu luận, tạp văn… và viết cho nhiều đối tượng từ thiếu nhi, tuổi mới lớn, người lớn, tôn giáo...Với tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” là tác phẩm thứ 20 của anh.
    Cảm nhận đầu tiên của tôi về tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” là thơ anh bình dị, dễ thương, nhẹ nhàng… như lời tình tự, tự sự. Anh làm thơ một cách tự nhiên như hơi thở, như ăn cơm uống nước. Thơ anh trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với đời sống. Tuyệt nhiên không thấy những vấn đề “vĩ đại”, không dùng đao to búa lớn, không sử dụng những thuật ngữ triết học để khoe mẽ, không dùng kiểu cách làm màu hay thủ pháp làm ra vẻ “tân thời”, không xài nhiều từ Hán-Việt… Bởi vậy dòng thơ của anh cứ róc rách chảy như nước suối mát trong.
    Thơ hai dòng, thoạt xem qua tưởng nhạt nhưng đọc hết sẽ thấy thú vị, tuy hai dòng, ít chữ nhưng gói gọn nội dung cần nói, ý nghĩa đủ đầy. Có thể xem thơ hai dòng như là một “Haiku Việt” vậy.
 
Rằng thưa người ở trời Tây
Mới về. Khách lạ? Chỗ nầy quê hương!…
 
Người về từ trời Tây về là khách ư? Không đâu! Chẳng phải mới về mà “về” đã lâu! Quê hương chính ở chỗ nầy! Tự hỏi lòng mình: “Mình là khách ư?”. Mình sống xa quê, nhớ quê nhưng ngạn ngữ Tây phương cũng có câu: “Home is where  heart is”. Chính chỗ này là quê nhưng trong tâm hồn vẫn phảng phất: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị”. Mình là con người mà, hơn nữa là một thi sĩ thì cái tình, cái nhạy cảm còn nhạy hơn những người ít dụng đến chữ nghĩa văn chương.
 
Mưa chiều ướt giậu mồng tơi
Làm loang mực tím một trời tuổi thơ!…
 
Tứ thơ thì không mới, hình ảnh cũng được nhiều người sử dụng, tuy nhiên đọc lên vẫn cảm nhận được cả “một trời tuổi thơ”, một thời mực tím tuổi học trò. Trong nước có tờ báo “Mực tím” được giới học sinh yêu thích vô cùng.
 
Rời ru neo giữa đêm dài
Mẹ và cánh võng thức hoài à ơi!…
 
Đọc lên tự nhiên thấy hình bóng mẹ yêu thương, nào đâu mẹ của anh, mẹ của tất cả những người Việt Nam. Ai cũng có một bà mẹ từng hát ru à ơi. Cánh võng đu đưa đã đưa ta từ tấm bé cho đến lúc trưởng thành. Hai dòng thôi, cần chi nhiều hơn nữa, nhiêu đó đủ để nhớ thương mẹ ngập lòng.
 
Ta là hạt bụi ngàn năm. Độ
Rơi xuống trần, gặp hoa. Làm thơ!
 
Người bên giáo đều tin ta là cát bụi, cát bụi sẽ trở về cát bụi. Nhạc Việt cũng có lời ca: “ta là cát bụi, xin người nhớ cho”. Từ hạt bụi ngàn năm lại tái sanh làm người mà là người thơ để rồi gặp hoa và lại làm thơ. Hạt bụi rơi xuống trần, tự dưng tôi liên tưởng để những thi sĩ xa xưa từng tự ví hay được ví là “Trích tiên”, là những vị bị đày xuống trần gian để rồi vẫn tiếp tục làm thơ, yêu thơ… và để rồi:
 
Những phút linh thiêng cầm thơ đứng đợi
Có từ nào rơi rụng hóa thành sao?
 
Trời ơi, yêu thơ, mê thơ đến thế là cùng. Những phút ấy linh thiêng như thể một tín đồ đang tán dương ca tụng bậc thánh thần nào đó vậy! Và từ ngữ thơ rơi rụng hóa thành sao. Ca ngợi thơ, trân trọng thơ đến như vậy là nhất rồi!
    Trần Hoàng Vy đi qua bao nhiêu địa phương từ trong nước ra hải ngoại, dĩ nhiên những vùng đất đi qua đều để lại ít nhiều kỷ niệm trong tâm hồn và điều ấy trút cả vào thơ
Hãy cứ nón bài thơ xứ Huế
Áo tím chiều Đại nội bay bay
Cho đến
Kontum em,
Độ xuân thì

Trước hết thì anh là người con xứ Quảng, quê hương của núi Ấn sông Trà. Dù anh đã vào Nam từ lâu nhưng tình cảm dành cho đồng hương vẫn rất mặn nồng
 
Chủ xe mì gõ người Châu Ổ
Tôi nghe giọng em khua suốt hẻm sâu
 
Đồng cảm với nỗi vất vả mưu sinh của những người con xứ Quảng ở Sài Gòn. Trên giải đất chữ S Việt Nam, đâu đâu cũng có người cùng khổ, đói nghèo. Những người vì đói nghèo mà lưu lạc tha phương cầu thực thì càng đau thương hơn. Anh viết bài thơ này có lẽ đã hơn một lần nghe tiếng rao mì gõ trong đêm khuya.
 
Vàm Cỏ Đông. Vàm Cỏ ngày tím
Lục bình mùa tụ hội
Sinh sôi
Chợt câu hát nghe tím lịm
“Anh đi anh nhớ sông Trà”
 
Quê hương trong anh thật khó xóa nhòa, đi đâu, ở đâu cũng nhớ quê. Lại thêm một bài thơ về Châu Ổ
 
Xa thật rồi Châu Ổ
Nào có châu báu gì mang theo, một hồn quê mộc mạc
 
Tôi nhớ có một câu danh ngôn (quên tên tác giả), đại khái ý chính nói: Có thể rứt một con người ra khỏi quê hương chứ không thể rứt quê hương ra khỏi trái tim con người.
    Trần Hoàng Vy là minh chứng trong nhiều minh chứng vậy! Hồn quê mộc mạc nhưng còn hơn châu báu, ra đi mang theo hồn quê, đi đâu cũng nhớ về quê hương, nhớ giọng nói quê: “Boác mua gì không boác?”, nhớ đặc sản “Cá bống sông Trà kho tiêu”, nhớ  “kẹo mạch nha, đường phổi, đường phèn…
    Khi ra hải ngoại, dù ở xóm Lạch Cầu (chữ của anh) hay ở Đồng Xuân (Springfield) thì quê hương vẫn đau đáu trong tâm tưởng. Nghe mưa mà ngỡ tiếng thì thào quê xa
Ta vừa tỉnh giấc chiêm bao
Tiếng mưa như tiếng thì thào quê xa
 
Những chiều mưa ôi nhớ nhà đến tím cả hoàng hôn, Xóm Lạch Cầu, Texas, Cali, Florida… xứ này giàu sang, hiện đại, bao la… nhưng anh vẫn nhớ lắm Châu Ổ, Hương Giang, Vàm Cỏ, Nhơn Trạch, Lái Thiêu, Sài Gòn...Quê hương không chỉ là đất, không chỉ là nơi sinh ra lớn lên. Quê hương cũng chính là mẹ, là cha
 
Cha giờ sương khói quê xa
Còn thương núi Ấn, sông Trà đậm sâu
 
Bài thơ Cỏ Biếc cũng là tên của tập thơ, có lẽ anh rất yêu bài thơ này. Chữ biếc này khó diễn dịch cũng giống như mắt biếc. Ở đây không hẳn là màu sắc mà là cái gì đó ngây thơ, trong trắng, sâu lắng tận đáy lòng
 
Cỏ của xanh xưa, ngày hoa trắng
Ta quá thì xuân mỏi bước chiều
Vun cánh, nhặt hơi tìm hương cũ
Nghe quanh mình cỏ biếc đang yêu
 
Tình yêu không có tuổi, sá gì chuyện quá xuân thì, dù có mỏi bước chiều nhưng vẫn tìm nhặt hương cũ, để rồi biết cỏ biếc đang yêu. Cỏ nào đây? Chỉ là cách nói ngụ ý tỏ tình. Ta có qua xuân thì nhưng cỏ biếc của xanh xưa vẫn trong tâm hồn, vẫn mãi một thời hoa trắng. Để rồi
 
Vắt bên trời trong veo tiếng hạc
Thu đã rằm. Cỏ biếc long lanh
 
Trong tập thơ còn có một số bài thơ có chất thiền, tuy nhiên thiền ở đây cũng rất gần gũi và dân dã như đời thường, khác với cái thiền “cao siêu” của các vị thiền sư.
 
Tập tàng, rau nấu canh suông
Ngồi canh lửa héo, vẽ tuồng, bôi râu
Chợt thiền, bướm hóa thành sâu
Cỏ vô tư hát, vườn sầu Nam ai
 
Chỉ bốn câu nhưng thâu tóm thật nhều trong ấy, vừa có canh rau tập tàng dân dã nhà quê, vừa có vẽ mặt hát tuồng, lại có cả một chút hơi hướm Trang Châu khi “bướm hóa thành sâu” cái vòng tử – sanh, tái sinh bất tận. Kết lại thì một khúc sầu Nam ai.
    Kết thúc tập thơ là là một khổ thơ mang chữ của Tâm Kinh

Xòe tay, sắc sắc, không không
Dấu chân quê cũ phiêu bồng xứ xa
 
Không cần phải luận bàn “sắc không” mà chi, xòe tay ra đủ thấy “sắc không” như thế nào thì tự mỗi người nhận biết. Bàn tay xòe ra che không hết dấu chân phiêu bồng xa xứ người ơi!

 

– Hiền Nguyễn

Ất Lăng thành, 0424

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.