Hôm nay,  

Người Thầy Dạy Cũ

28/05/202415:58:00(Xem: 4142)

 Tran Hoai Thu

Trần Hoài Thư là thầy dạy học của tôi hồi còn trung học. Thày dạy môn Công Dân Giáo Dục lớp đệ tam nên cũng không ăn khách lắm. Môn này học trò thường cúp cua hay nếu ở lại học cũng chỉ nghe cho hết giờ. Đó là niên khoá đâu như 62-63 hay 63-64 gì đó. Những năm đó là những năm bắt đầu có cuộc tranh đấu của Phật giáo ở Huế chống lại sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm trong dịp Phật Đản.

Thầy tên là Trần Quý Sách, độ khoảng 21, 22 tuổi, dáng cao lênh khênh, ăn mặc bình thường, đeo kính cận. Thầy vào lớp tôi giữa tiếng cười của đám học trò con trai, con gái, phá như quỷ. Thầy giảng bài nhẹ nhàng, có câu nói lắp, cà lăm một chút xíu. Tôi không để ý nhiều vì cũng như nhiều học trò lúc đó, học cho hết giờ, vì môn công dân giáo dục cũng như những phụ khác như Nhạc, Vẻ hay Hán Văn, đều là những môn, “học mà chơi”.


Đến khi cuộc tranh đấu ở Huế nổ lớn ra, ở Huế có tờ Lập Trường, do một số giáo sư Đại Học Huế chủ trương, trong đó chủ chốt là giáo sư Cao Huy Thuần, đã lôi kéo một số cây bút có tiếng tăm cộng tác. Thầy đọc tờ báo này và tôi cũng đọc báo này, nên hai thầy trò thân nhau. Ôi, hồi đó, chuyện văn nghệ, viết văn, làm thơ, sao mà quý, tôi biết thầy viết văn, làm thơ, nên tôi rất mê thầy, dù chưa được đọc ở thầy một bài nào cả.


Trong niên học đó, tôi là người học trò được thầy thương. Tôi đã kết thân với thầy, đã đến nơi thầy ở trọ, đã được nhìn căn phòng bề bộn thầy ở với tùm lum sách báo, tranh vẽ và rác rưởi. Tôi nghĩ những người có tâm hồn văn nghệ, làm thơ, viết văn, thường sống trong những bộn bề như vậy.


Có một chủ nhật nào đó, thầy đã về nhà tôi. Nhà cha mẹ tôi ở là một vùng quê cách quận lỵ khoảng 8 cây số. Thầy đã ở lại cùng tôi, đã ăn cơm trưa với món canh bông lý mà mẹ tôi đã nấu đãi thầy. Ngày ấy thật vui và vô tư biết bao nhiêu. Và cũng từ sau những ngày ấy, thầy đã bỏ trường mà đi. Từ đó, tôi không gặp thầy nữa nhưng tôi biết thày đã vào quân đội.


Sau này lớn lên, tôi vào Sài Gòn học đại học, rồi chiến tranh lan rộng, tôi cũng vào lính như thầy, cũng ra đơn vị tác chiến, cũng đọc sách, cũng làm thơ, viết văn, nhưng tôi chưa được gặp lại thầy một lần, mà chỉ đọc thày ở một số truyện ngắn, đăng rãi rác ở đâu đó như là trên Văn, trên Ý Thức... Tôi theo dõi thày rất sát qua thơ văn thầy. Dù thầy đi cùng nơi, khắp xứ, ở đâu, nơi đâu, tôi cũng theo thầy vơi những truyện thầy đăng báo. Tôi biết thầy đời lính cũng long đong hết cở. Bị cận thị nặng nhưng thầy vẫn đi tác chiến, làm trung đội trưởng trung đội thám kích, sư đoàn 22 bộ binh, đánh giặc cũng “chì một cây”, sau đó thầy bị thương, rồi đào ngũ, rồi ra lao công đào binh, rồi được phục chức về Quân Đoàn IV+QK4 với chức vụ phóng viên chiến trường.
 
Sau 30 tháng tư bảy lăm, tôi đi tù, thầy cũng đi tù, thầy đi tù về, đi bán cà rem dạo cho trẻ em, rồi thày vượt biên và thoát. Tôi cũng đi tù nhưng sau khi về phải sống lây lất ở Việt Nam đến mười bốn năm, đến mãi năm chín lăm, tôi mới được đi xuất cảnh theo diện HO.

Qua Mỹ, đọc những tạp chí văn học thấy tên thầy. Tôi mừng húm. Tôi hỏi Khánh Trường địa chỉ của thầy, tôi mới bắt được tin tức thầy, liên lạc với thầy qua Email. Thầy viết thư cho tôi, viết về những ngày dạy ở Tam Kỳ, Quảng Tín, về những người nữ sinh xinh đẹp đã một thời làm xao động con tim của thầy (và cả tôi nữa):

Mấy mươi năm chưa một lần về thăm
Thị trấn ấy biết còn đàn sáo ngủ
Ngôi nhà trọ còn giàn hoa giấy đỏ
Gốc cây xưa còn đỏ một khoảng trời
Khi em một lần của tuổi rong chơi
Và tôi một lần,bạn cùng bảng phấn…

-----------------------------------------

 Nhớ ngày nào tôi đến nhà em
Mẹ em đãi thày nồi canh bông lý
Bông lý quê em ngập đầy gió núi
Như nắng vàng đầy ngập vườn sân
Như những ngày tôi có Trần Cao Vân

----------------------------------------

Tôi bỏ nậu đi bỏ lớp trường xưa
Bỏ quán cô Thuyền, bỏ nhà Nam Ngãi
Bỏ chiếc xe hàng qua đêm đậu lại
Cùng tiếng máy đèn rền rĩ thâu đêm.



Thầy đã nhớ về và tôi cũng nhớ về những kỷ niệm xưa cũ đó, nhưng tôi chưa được gặp thầy một lần. Từ năm 1964 đến năm 2005, đúng là 41 năm.

Trong thời gian đó đến nay, Trần Hoài Thư đã in được những quyển sách sau:

Trước 75:

- Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang (Ý Thức xuất bản)
- Những vì sao vĩnh biệt (Ý Thức)
- Ngọn cỏ ngậm ngùi (Ý Thức)
- Một nơi nào để nhớ (Con Đuông)

 

Sau năm 1975 ở Mỹ:

- Ra biển gọi thầm (1995)
- Ban Mê Thuột, ngày đầu, ngày cuối.
- Thơ Trần Hoài Thư
- Ngày Vàng (thơ)
- Ô cửa (thơ)

 

Và hẳn là vẫn còn nữa… tôi không nhớ hết.

Trong bốn năm năm trở lại đây, Trần Hoài Thư  chủ trương “Thư Quán Bản Thảo”, đây là một tập san không định kỳ, do Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vỵ Khanh thực hiện, mục đích như nhà phê bình Đặng Tiến viết trong Thư  Quán Bản Thảo số ra ngày 23-4-2006 (năm thứ năm) như sau:

“Hiện nay, sau khi tái bản thơ Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, truyện ngắn Y Uyên, nhóm Thư  quán của Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhan đã sưu tầm và in lại thơ Vũ Hữu Định để tặng biếu, không bán, trong tinh thần bảo lưu và truyền bá di sản văn học miền Nam. Chúng tôi đã có lần đề cao thiện chí này, nay một lần nữa, xin công nhiên ca ngợi một việc làm tâm huyết.”

Tại sao lại là Thư Quán Bản Thảo? Tôi nghĩ, Trần Hoài Thư là kỹ sư điện toán, nên ông đã dùng computer để đánh máy, lay out và in ngay (có máy in nhỏ in mỗi lần vài ba chục cuốn đến một vài trăm cuốn, đóng bìa luôn và gởi tặng bạn bè. Khi có nhu cầu sẽ in thêm, nghĩa là sản xuất tại chỗ từ khâu đầu đến khâu cuối.)

Tôi rất phục công việc này của nhóm chủ trương Thư  Quán Bản Thảo, mà đầu tàu là Trần Hoài Thư. Miệt mài trong năm năm, Thư Quán Bản Thảo đã cho trình làng đều đặn những cuốn sách sau đây:

* Những tuyển tập đăng thơ, truyện của các tác giả cũ, trước bảy lăm:

Bùi Nghi Trang, Hạc Thành Hoa, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hiền Ân, Cao Thoại Châu, Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Truyện ngắn Y Uyên.Trong vòng 3 tháng đầu năm 2006, Thư Ấn Quán đã in được những tác phẩm:- Thơ Vũ Hữu Định (tặng)
- Văn số 125 tháng 3 năm 1969, chủ đề Đầu Xuân Lộc Mới (in lại, tặng)
- Một mình như cánh lá, thơ Hạc Thành Hoa (tặng)
- Quanh quẩn bên đời, tập truyện của Trần Bang Thạch.
- Hương Sắc Mong Manh (thơ Hoài Khanh, (tặng)

Tôi đọc hết những tập do Thư Ấn Quán in và xuất bản, gởi tặng tôi, tôi mới thấy công trình của nhà văn Trần Hoài Thư thật đáng cảm phục và cả tấm lòng đối với văn học miền Nam trước bảy lăm. Những bạn văn thuở ấy, bây giờ sống ở trong nước vất vưởng như những chiếc bóng. Không người nào ngất đầu lên nổi nếu không chấp nhận phục tùng chế độ. Một Trần Dzạ Lữ thuở nào với thơ ngợi ca màu tím Huế, cô gái Huế thì bây giờ suốt ngày đứng dang nắng giữ xe đạp ở chợ Trần Hữu Trang, Phú Nhuận. Một Hà Nguyên Dũng bịnh lên bịnh xuống, không làm được gì ra tiền. Cả gia đình chỉ còn mong chờ vào nồi xôi của người vợ, bán buổi sáng, ở trong hẻm một con đường nhỏ  Ngã Tư Bảy Hiền. Một Đynh Trầm Ca gần ba mươi năm sống lang bạt ở Sài Gòn, cố tìm một mái ấm cho gia đình mà không tìm được, cuối cùng anh phải “quy cố hương”, về lại Vĩnh Điện nới có ngôi nhà của người mẹ để lại:

Buộc phải lên tàu-hề quy cố hương
Riêng ta biết ước mơ người vẫn chảy
Có những điều mắt thường không dễ thấy
Cảm thông nhau như một nỗi buồn

Ba mươi năm đổi đời di dân
Nơi nào đến cũng đường cùng đất dữ
Nay về lại quê xưa chốn cũ
Bạc áo giang hồ –xếp nợ văn chương


Nguyễn Hữu Thụy (tặng Đynh Trầm Ca)

Cho nên Trần Hoài Thư, với tấm lòng muốn tìm lại những người bạn cùng thời xưa, một thời đi lính, một thời viết văn, làm thơ, in lại những tác phẩm của họ rồi tặng không cho thân hữu, bạn bè hay độc giả yêu thích văn chương, đó là một tấm lòng đáng trân quý biết là dường nào.

Gặp

Thế là đã bốn mươi mốt năm, thày trò tôi thất lạc nhau. Thất lạc đây có nghĩa là không được tay bắt mặt mừng, ôm choàng lấy nhau, nhìn mặt nhau, coi có phải là người mình mong đợi bằng xương bằng thịt đây không? Bốn mươi mốt năm dài quá, một nửa đời người chứ ít sao. Thì hôm tháng bảy (hay tháng sáu, hay tháng tám, tôi quên đi) năm 2005, tin từ nhà thơ Đạm Thạch, “Trần Hoài Thư sẽ về Cali chơi, thăm anh em văn nghệ”. Rồi sau đó, tôi được tin từ email của Nguyễn Nam An thông báo sẽ gặp nhau ở cà phê Factory. (Còn nhiều nữa, Tưởng Năng Tiến lên email nói sẽ dẫn đi nhậu không say không về, nhưng sau đó chẳng thấy đâu).    

Hôm đó là thứ bảy, tôi đến sớm cùng Thành Tôn, Nguyễn Nam An, Đạm Thạch, sau đó có Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Mạnh Trinh, Huỳnh Hữu Ủy, Hồ Thành Đức… thì Trần Hoài Thư đến cùng vợ. Bốn mươi mốt năm, thầy vẫn cao lênh khênh, tóc có bạc đi, mắt kiếng cận có dầy thêm, nhưng nhìn thầy tôi vẫn nghĩ đến người của bốn mươi mốt năm trước, vẫn nụ cười ấy, vẫn lối ăn mặc bình dân ấy, thầy không thay đổi gì trong ý tưởng của tôi. Khi tôi bắt tay thầy, tôi nói, em là Trần Yên Hoà, học trò thầy hồi ở trường Trần Cao Vân, Thầy ôm lấy tôi, tôi ôm lấy thầy, cảm động đến ứa nước mắt.

Ngày gặp gỡ đó tôi không bao giờ quên. Đến bây giờ, khi viết bài này, tôi vẫn cứ nghĩ đến một nhà văn Trần Hoài Thư đang lo in ấn những tác phẩm của bạn bè bằng lối in mới, tự in rồi đóng bìa luôn. Thầy vẫn nguyên một tấm lòng trong sáng, cố gắng thực hiện để đem những tác phẩm của bạn bè viết văn, làm thơ, trước bảy lăm, đến cho độc giả hải ngoại.

 

Trần Yên Hòa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.