Hôm nay,  

Cuộc Ngưng Chiến Không Có Thật

30/01/202511:09:00(Xem: 3607)
 
Minh họa Đinh Trường Chinh
Minh Họa Đinh Trường Trinh 

Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…”
Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…

Rồi các nhật báo Việt Nam ở những sạp báo dưới phố đã nhanh chóng phát hành,loan tin Việt Nam sắp có đình chiến, sắp trung lập đến nơi rồi. Mỹ đã ký Hiệp Định ngưng bắn với Bắc Việt.

Chị lúc đó, khi thì chạy lăng xăng theo mấy ký giả, lúc thì ngồi thừ người ở bàn giấy của mình nghiêng tai nghe hai chữ “Đình Chiến” nhìn mọi người chạy qua chạy lại trước mặt mình.

Ông Xếp bảo: Cô chạy sang bên Macv xem có gì mới thì gọi báo về, sang bên Chiến Tranh Chính Trị, Đài Phát Thanh Quân Đội xem họ có thêm Bản Tin mới nào nữa không? Ông nói xong thì lại quên luôn vì ông đang chúi đầu vào đọc những dòng telex mới.

Chị ngồi thừ trên bàn viết của mình, như không nghe thấy ông nói gì, mặc dù bàn của ông và của Chị đối diện nhau, trong cái buồng khoảng hơn 4 mét vuông.

Trong tai Chị, lùng bùng hai chữ “Hòa Bình” trong đầu Chị trôi lềnh bềnh hai chữ “Ngưng Bắn” Đầu chị như một cái ao nhỏ và mấy cái chữ này như mấy cánh hoa lục bình…bập bềnh…bập bềnh…trôi.

“Ngưng bắn”, thế có phải là Trung Lập, là Hòa Bình không? Hòa Bình là hết bắn nhau, là hết bom đạn, hết bị thương, hết tử trận…và những người lính được giải ngũ về với gia đình.

Hết bắn nhau thì những người lính sẽ được buông súng trở về với nhiệm sở cũ của mình hoặc kiếm công việc an bình hơn.

Người dân miền Nam sẽ không lo pháo kích, không lo bị đặt chất nổ ở những nơi công cộng, làng xã những vùng “xôi đậu” không lo ban ngày quốc gia, ban đêm cộng sản về. Hạnh phúc hơn nữa anh em, họ hàng chia ly từ 1954 có thể tìm về đoàn tụ với nhau… Ôi thật là bao điều kỳ diệu sẽ xẩy ra cho người dân cả hai miền Nam Bắc.


Bất giác Chị thấy sao lòng mình lại quặn thắt, nước mắt Chị bỗng ứa ra. Chị lấy khăn lau vội và Chị rời văn phòng, không báo cho ai biết, chị đi vào thang máy xuống phố.

Chị hòa vào đám đông dưới phố. Người ta đang tụ tập tùng nhóm nhỏ trước những sạp báo. Họ đang chúi đầu vào cùng một trang báo, tìm hai chữ “Đình Chiến” hai chữ “Ngưng Bắn”. Chị tránh đám đông đi bộ về hướng bến Bạch Đằng, con đường hơi dài nhưng với Chị bây giờ đường ngắn hay dài Chị cũng thấy như nhau, chị cần bỏ đám đông, bước đi, đi đâu cũng được, vì đầu óc Chị chỉ biết có một điều:

Dù “Ngưng Bắn”, dù “Hòa Bình” Anh cũng không bao giờ về nữa.
Em đã thấy xôn xao trong thành phố
Người ta đang nói hai chữ “Hòa Bình”
Em đã đọc trên từng trang nhật báo
Người ta viết rằng Việt Nam sẽ tàn lụi chiến tranh
Em đã nghe những bài hát hiền lành
Trên môi người ca sĩ
Những bài ca xanh mộng hòa bình
 
Ôi tất cả đều ôm lòng non dại
Từ cụ tám mươi tới đứa trẻ lên ba
Ôi giấc mơ đã xóa mất tuổi già
Để tóc bạc thấy mùa xuân trở lại
Ôi ngày mai nếu thanh bình em sẽ thấy
Những người lính mất tay mất chân
Cũng rủ nhau tìm ra Hà Nội
Những người mù
Những đứa bé mồ côi
Những khăn tang cũng tìm được tiếng cười
Sẽ chấm dứt bom rơi đạn nổ
 
Nhưng hòa Bình rồi
lòng em vẫn không vui
 
vì Anh đã bỏ đi trước khi ngưng tiếng súng.
vì Anh đã chết trước khi được nghe hai chữ “Hòa Bình” (tmt-1973)
 
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, tờ New York Time đã tường trình một tin mới nhất về một thỏa thuận ngưng chiến giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam tại Paris. Nhưng Cộng Sản không bao giờ nghiêm chỉnh trong những lời hứa, dù lời hứa được cam kết bằng bút mực. Súng đạn vẫn tiếp tục nổ tại miền Nam và người dân vô tội vẫn chết ngay trên ruộng đất của mình, làng mạc vẫn cháy, trẻ em vẫn mồ côi cha, người vợ trẻ vẫn phải chôn chồng. Cộng Sản là những người không bao giờ nói thật, và lừa dối ngay cả trên văn bản, chữ viết, cho nên Bản thỏa thuận dù có chữ ký hai bên không hề được thực thi đứng đắn.
 
Bài Thơ cho một “Hòa Bình” không có đích danh là những giọt lệ không bao giờ khô trong mắt chị.
 
Trần Mộng Tú 
Tháng 1-2025 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.