Hôm nay,  

Ngày Của Mẹ

09/05/202500:00:00(Xem: 1968)

Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ.
Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ.

           

Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v.,  nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha.

                   

Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.

           

Có những người con trưởng thành, tốt nghiệp đại học, tiếp tục học cao học, mà mỗi khi có việc gì không hài lòng cũng cứ gọi mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ ơi. Ngay cả khi những người con thành tài, là bác sĩ, kỹ sư, luật sư, dược sĩ mà cũng gọi mẹ ơi, mẹ ơi, gọi ới ời như con nít khi gặp mẹ.

           

Tiếng gọi "mẹ ơi, mẹ ơi" ngọt ngào, ấm áp như không bao giờ chấm dứt, vì thế suốt đời tiếng "mẹ ơi" không bao giờ quên được. Nếu chẳng may người mẹ qua đời thì người con sẽ hụt hẫng như mất một cái gì vĩ đại nhất, không còn muốn sống nữa. Hạnh phúc thay những người còn mẹ, không ai thay thế được mẹ của mình.

  

Nuôi con mẹ chẳng thở than,
Mong sao con được bình an tháng ngày.

           

Có nhiều đứa trẻ chẳng may mẹ mất sớm, cha tái giá, người mẹ kế tốt bụng chăm sóc con chồng như chính con ruột của mình. Đứa trẻ cũng thương mẹ kế nhưng làm sao bằng mẹ ruột của mình.

           

Lâu lắm rồi, chúng tôi đọc truyện về một người phụ nữ di tản, đi tị nạn Cộng Sản, lạc đến đảo, người mẹ bồng đứa con trên tay ngồi trên một tảng đá. Hai mẹ con mấy ngày không có một hạt cơm trong bụng, đứa trẻ khóc vì đói, vì khát. Người mẹ đau lòng bèn cắt tay mình để lấy máu cho vào miệng con. Cứu sống được đứa con thì người mẹ kiệt sức qua đời trong khi chờ đoàn cứu trợ đem thực phẩm tới. Khi đọc truyện này, ai cũng rơi lệ. Người mẹ hy sinh mạng của mình, chịu chết để cho con được sống. Hy sinh nào vĩ đại bằng hy sinh mạng sống của mình? Nhiều người mẹ hy sinh cuộc đời của mình để con được sống.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, bao giờ con gặp lại mẹ. Mẹ tôi qua đời năm 1966 nhưng tôi nghĩ mẹ tôi vẫn còn ở đây. Vào chùa nào, tôi cũng nghĩ mẹ tôi đang ở trong chùa, đang nhìn chúng tôi cười. Nhất là đến "Ngày của Mẹ", mỗi lần nhìn thấy các cụ già giống mẹ tôi được con cháu dìu đi vào chánh điện, sao tôi thấy hạnh phúc cho những người còn cầm tay mẹ mình. Sao họ hạnh phúc, sao mình không được phúc đức như thế? Phải tu nhân tích đức thì mới được như thế, mới còn mẹ.

           

Kỷ niệm về mẹ tôi nhiều lắm. Ở Việt Nam, chúng tôi sống trong ngôi nhà rộng, đất rộng. Nhà đầu tiên được xây trên đất của ông nội chúng tôi để lại. Sau này, ba mẹ tôi mua một miếng đất khác rộng rồi xây nhà. Xung quanh là cây xanh, yên tĩnh, chúng tôi lớn lên trong ngôi nhà này, bình yên và hạnh phúc, ngôi nhà có tiếng cười suốt ngày.

           

Nhà chúng tôi nuôi nhiều chó, có những con chó thật to, chó giữ nhà, chó thương chủ nhà, chó đưa chủ nhà ra tận cổng khi chủ nhà đi chợ hay đi đâu đó, chó đón chủ nhà trở về. Có một điều rất lạ mà chúng tôi không hiểu nổi khi thấy một đàn chó chạy ra cổng mừng rỡ đón chủ nhà trở về mà không có tiếng sủa, nhưng nếu có người lạ đến là chó cất tiếng sủa rất to, mẹ tôi chỉ cần lên tiếng: "Các con vô nhà" thì chúng nghe lời ngay, vô nhà im phăng phắc?

me

Thân Mẫu của Kiều Mỹ Duyên và cô Hoàng Minh Thúy, chủ báo Xây Dựng, Houston.

            

Mẹ tôi thường cúng Phật ở nhà, trên bàn thờ lúc nào cũng có trái cây tươi, hoa tươi và nước lọc.Trái cây ngoài vườn, hoa ngoài vườn hái đem vào cúng Phật. Mẹ tôi thường đi chùa đem trái cây, hoa quả cúng Phật, mẹ tôi cũng làm công quả ở chùa. Mẹ tôi là Phật tử thuận thành, mẹ tôi cầu nguyện mỗi ngày, cầu nguyện cho gia đình, cho người thân và cầu nguyện cho người nghèo, mẹ tôi ăn chay vào ngày rằm, ngày lễ.

          

Nhiều lúc chúng tôi nghĩ không biết bây giờ mẹ chúng tôi ở đâu? Mẹ tôi có hạnh phúc hay không? Mẹ tôi ra đi không phiền muộn, ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản thì chắc mẹ đang hạnh phúc lắm ở cõi Niết Bàn.

          

Không có người mẹ nào thích chiến tranh, bởi vì có chiến tranh thì phải có những chàng trai trẻ lên đường nhập ngũ, tòng quân, thì có chiến tranh làm gì chứ? Em trai tôi đi lính, đêm đêm, mẹ tôi quỳ dưới bàn thiên ngoài trời cầu nguyện cho con mình bình yên trở về. Ra chiến trường giữa bom đạn, chắc gì trở về còn đủ chân tay?

           

Không ai bảo đảm khi lao vào nơi bom đạn mà còn lành lặn tay chân trở về? Có bao nhiêu con, cháu của tỉ phú mà ra chiến trường, cũng là mạng người nhưng con người giàu có mấy người ra chiến tuyến? Ở đời này, tìm sự công bình cho người nghèo có được không?

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, chúng con thương mẹ lắm, nhưng bây giờ mẹ ở nơi nào? Mẹ có linh thiêng về đây chứng giám, chúng con làm từ thiện một phần hồi hướng công đức dành cho mẹ. Chúng con hy vọng mẹ đã siêu thoát và về Cõi Niết Bàn. Chúng con nghĩ đến mẹ và thương mẹ nhiều lắm, nhờ có mẹ, chúng con có được hạnh phúc này. Mẹ ơi, chúng con thương mẹ lắm. Mẹ là tất cả, mẹ là Bồ Tát, mẹ là thiên thần, là tình thương bao la, là những gì cao quý nhất trên đời này.

           

Mẹ ơi, bây giờ con không còn mẹ. Mẹ ở đâu, xin một lần mẹ cho chúng con được nhìn thấy mẹ. Nhớ nụ cười thật tươi của mẹ, nhớ bàn tay ấm áp của mẹ dịu dàng đặt trên trán của chúng con khi chúng con bị cảm sốt. Mẹ ơi, mẹ ơi, con nhớ mẹ!

Đừng bao giờ chờ đến khi Mẹ không còn nữa mới nói những lời yêu thương chân thành dành cho Mẹ. Hãy hiếu thảo với Mẹ cho

 

Đừng bao giờ chờ đến khi Mẹ không còn nữa mới nói những lời yêu thương chân thành dành cho Mẹ. Hãy hiếu thảo với Mẹ cho tròn phận con.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, dù con gọi mẹ mỗi ngày nhưng mẹ của chúng con đã đi xa, không bao giờ trở lại. Một đời người, dù có sống lâu trên 100 tuổi cũng phải ra đi và đi không bao giờ trở lại. Mẹ ơi, mẹ ơi, dù tiếng gọi của con có ngọt ngào, có thảm thiết cỡ nào thì mẹ cũng xa con rồi.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi! Con nhớ Mẹ nhiều lắm!

  

Orange County, 11/5/2025

KIỀU MỸ DUYÊN

([email protected])

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.