Hôm nay,  

Phương Trình Tình Ái

20/06/202500:00:00(Xem: 2261)
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.

– Ông không có tình ý gì, sao con đĩ đó quanh quẩn ngoài cổng chờ ông?

– Bà nói nhỏ nhỏ, hàng xóm nghe hết bây giờ. Họ ở nhà họ. Mình ở nhà mình. Đâu có dính líu gì.

– Trời ơi là trời. Nó nhìn ông con mắt sắt lẻm. Lắt lắt hai cái vú không mặc xú-chen. Tức muốn hộc máu.

– Bà nói nhỏ nhỏ. Thôi đi ăn trưa đi.

– Không ăn, không uống gì hết. Bà Lựu nạt lên rồi bưng nồi canh trút xuống bồn rửa chén, tạt dĩa cá kho vào thùng rác. Mắt long sòng sọc. Máu xông lên mặt đỏ bừng. Nước miếng phun ra, chảy rung rinh một bên mép.

– Thôi bà ơi, tui xin bà. Làm ơn cho tui sống. Bà hét như vậy cả phố đều nghe. Mặt mũi đâu mà gặp hàng xóm.

– Ông thèm hả. Đây nè. Bà Lựu xé toạt áo cánh đang mặc. Tụt quần xuống, nhảy đồng đổng, ống quần còn dính một chân, bà Lựu vấp lên vấp xuống. Loạng choạng vịn vào tường. Thở gấp rút như bơm bánh xe.

Sợ vợ té, Hải chạy tới ôm lấy bà. “Tui xin bà. Tui xin bà.” Chỉ lắp bắp bấy nhiêu. Ông cao và ốm, lỏng khỏng, ôm một khói bong bóng thịt, xiêu vẹo theo cơn nghiêng ngả cho đến khi cả hai đuối sức.

Ngày tháng sống của ông nối tiếp bằng những cơn ghen lớn nhỏ dài ngắn với hầu hết các phụ nữ có nhan sắc dù chỉ đi ngang qua đời ông một lần. Từ khi bà Lựu sinh béo phì, thì ghen tương gia tốc và tình dục kkhẩn cấp. Khẩn cấp? Vì bà Lựu bắt ông làm tình quá độ, bất kỳ lúc nào, nơi nào nếu cần, để bảo đảm ông không còn sức lực cho ai khác.

Cách đây hai hôm, một trận ghen tương ầm ĩ mà đối tượng là người vợ của bạn ông đến nhà thăm. Bà bạn lai tây nên đã quen hành vi tự nhiên, phóng túng. Lúc ra về đã ôm hôn lên má nhau. Bà Lựu chỉ nhịn được cho đến khi bà khách khuất bóng.

Ông không thể chịu đựng được nửa. Chắc phải bỏ đi thôi. Hai chiếc vali chứa những gì cần thiết, đã lén gửi nhà người quen ở đầu xóm. Ông còn ngần ngừ vì không thể làm điều bất nghĩa, nhưng chuyện hôm nay thật quá đáng, bát nước đã tràn. Ông xấu hổ và ân hận sao chưa chịu ra đi sớm hơn.

Lúc trẻ đi du học bên Pháp, về nước làm trưởng phòng thuế vụ tại một tỉnh lớn ở miền Trung, lên đến chức giám đốc trước khi về hưu. Tầm thước Hải cao ráo. Chơi thể thao, đánh quần vợt, tập quyền anh, đẹp trai nhất trong câu lạc bộ Pháp Việt. Khi để râu quai nón, khó mà nhận ra chàng là người Việt, nhất là khi theo dõi chàng cười đùa với mấy cô đầm. Hải cưới cô Lựu, trẻ hơn năm tuổi. Cô là người có dung nhan sắc sảo, nhưng chỉ mới học nửa chừng trung học đệ nhị cấp. Thân hình nhã nhặn, đầy đủ sức hấp dẫn, nhất là khả năng duyên dáng. Vành môi đó, ánh mắt đó đã từng làm Hải điên người. Nhất là khi Lựu hát. Cô có giọng hát rất hay và cách hát say mê  quyến rũ người nghe. Mỗi khi Hải đàn cho Lựu hát, thì thế giới tình yêu chỉ còn có hai người.

Buổi trưa không được ăn cơm, còn bị vợ đè ngửa trên ghế dài, sau một trận rút hết cơm cháo, bà lăn ra ngủ. Ông Hải chán đời. “Le soleil était là qui mourait dans l'abîme.” Mặt trời rơi chết dưới vực thẳm. (1) Ngồi dậy mặc áo quần. Bây giờ, ông có thể đi lanh quanh vài giờ, trở về trước khi bà thức dậy hoặc đi luôn ra bến xe đò. Nhìn xuống đống thịt phụng phịu như con sứa biển phơi truồng đang chảy tan, ông bước vội ra cửa mang theo lòng trắc ẩn.

Đứng giữa bãi đất hoang cạnh khu rừng man dã, cách nhà khoảng bảy cây số, nơi Hải thường xuyên đến tìm sự yên tĩnh, một thế giới khác hẳn hiện tại, một thế giới gần giống quá khứ Parc de Miribel-jonage (2). Nơi Hải thay phiên gặp lại những tình nhân cũ thơm mùi Paris như Josephine, Sylvie, Celine, Néatrice, Charlotte, Chloé và nhất là Aliénor. Họ đến theo mây ửng đỏ kỳ diệu màu hoàng hôn rồi đi theo chạng vạng tối đen vào sương mù. Họ tìm Hải trong gió bốn mùa rồi chia xa trên con đường tung lên bụi cát. Tình nhân như những con dơi hút máu. Hình như câu thơ này trong Les Fleurs du Mal của Baudelaire.

Hải thương cảm cho Lựu, cô bé mình dây eo lưng ong. Không biết lúc nào đã vượt qua con dơi hút máu và trở thành con hà mã nhai ngấu nghiến tình yêu. Hải luôn có cảm giác e ngại trước cánh tay to lớn của bà nếu quạt vào người, chàng có thể bay bổng như ai đó vất con mèo trong cơn giận giữ. Võ sĩ quyền anh không dám mang găng tay trước mặt nhà đô vật. Ông phải ra khỏi nhà vì không thể kéo dài nỗi nhục nhã ở nơi đáng lẽ ông phải là chủ nhân.

Tình nhân của Hải mỗi người mỗi vẻ. Chàng tự hào như người chơi sưu tập thực hành tình ái. Nếu Chloé hiền lành như một nữ tu khi dâng hiến, ít cử động, không dám rên la, chỉ thở mạnh rồi rướn lên khi nhận được tin niềm vui gõ cửa, thì Néatrice như nữ hải tặc quen say sóng lớn, lèo lái con thuyền xuôi ngược, bão càng lớn càng mừng, rồi đến lúc bật hết buồm cho thuyền từng hồi tung trên đập xuống mặt nước, hải tặc kêu thét những lời vô nghĩa.

Josephine là mệnh phụ yêu thơ. Âu yếm rượu vang từng ngụm với từng câu nói trữ tình. Niềm hứng khởi của cô sẽ bị dập tắt nếu trông thấy mặt người đàn ông đang hì hục, vì vậy Hải thường trình diễn ở phía sau mông hoặc thay đổi đeo mặt nạ như những chàng hiệp khách trong dạ vũ hóa trang. Cô thường xuyên kết thúc bằng một giai điệu mỗi lần mỗi khác dù cùng một chữ “vient.”

Celine làm nghề nếm thực phẩm. Một nghề nghiệp khác thường. Chỉ hiện diện ở những bữa tiệc lớn của giới thượng lưu, giới chính quyền cao cấp, giới  doanh nhân giàu có. Họ muốn bảo đảm tất cả món ăn thức uống phải đạt phẩm chất hảo hạng. Và cô trở thành người kỳ lạ nếm tình yêu. Nếu ai đã từng thấy nhạc sĩ mù Ray Charles dùng tay rà rẫm, sờ nắn tình nhân để biết cô ta đẹp hay xấu, thì sẽ hiểu cách Celine nếm tình nhân để biết anh ấy là ai và có khả năng gì cung hiến phụ nữ.

Đặc biệt là Aliénoir. Không có cách nào để diễn tả phẩm lượng ái tình của cô đầm lai này. Cô chính là sung sướng. Cô chính là hạnh phúc. Cô chính là một thứ địa đàng, nơi mà đàn ông sắp hàng ăn hết táo khi được yêu và ăn hết rắn khi bị hết yêu.

Aliénoir và Hải yêu nhau như Cleopatra và Anthony. Họ là một cặp tình nhân trốn ra khỏi địa đàng để tận hưởng tội lỗi, không chờ Chúa đuổi. Cô nói với Hải, "Le péché, c'est le manque de l'amour.” (3) Đúng. Tội lỗi là sự thiếu tình yêu. Khi có tình yêu thực sự, thì tội lỗi chỉ là chiếc áo chùm bên ngoài, khi cởi ra, đây mới đúng là con người nguyên thủy.

Bàn chân của bà Lựu càng ngày càng lớn theo cân đo. Dĩ nhiên đôi guốc gỗ trệt thay số lớn càng tăng sức nặng. Ông học được kinh nghiệm, khi cãi nhau mà phải bỏ chạy, sau khi chạy sáu bước, ông phải ngồi sụp xuống hoặc né sang một bên, chiếc dép gỗ đầu tiên sẽ phóng qua, rồi đứng lên chạy thêm ba bước nữa, né, dép gỗ thứ hai sẽ vụt đến. Sau đó mới chạy luôn. Bà lựu mập béo không thể nào chạy theo ông, vũ khí duy nhất của bà là đôi dép gỗ. Cứ lần nào phóng trúng lưng, ông sẽ quị xuống, sẽ nằm trên giường ít nhất là ba ngày. Bà thích lo lắng cho ông ăn uống như con nít, không phải lo âu bảo hiểm ái tình đáng nghi ngờ.

Ông thương xót vợ hay sợ không dám bỏ bà, chưa bao giờ ông có câu trả lời rõ rệt. Vừa cảm thấy tội nghiệp, vừa biết bà sẽ làm những chuyện điên rồ, không thể nào tiên đoán trước, vừa cảm giác tội lỗi. Ông là nguyên nhân làm cho bà mập phì, làm cho bà trở nên xấu xí, trở nên ghen tương cuồng dại và ông đang đón nhận hậu quả của tất cả những thứ đó.

Chìm đắm trong tâm sự tình nhân và vợ, giữa vui thú và sầu não, giữa mỉm cười và cau mày, hoàng hôn xuống khá nhanh. Cảnh rừng lặng lẽ theo tiếng chim hót thưa dần và tiếng côn trùng bắt đầu dâng cao. Chợt một giai điệu hót dịu dàng nhưng sắt bén trầm bổng nghiêng về cảm nhận hắt hiu, từ bìa rừng len lỏi vào cảm giác say sưa. Hải nhắm mắt, hít vài hơi dài rồi quên đi những chuyện xung quanh, quăng tình ra giữa hoang dã, nhận nuốt từng âm thanh của ân sủng bất ngờ. Tiếng chim có lúc dịu vợi cao siêu, có lúc gợi tình nỗi hiu quạnh, có lúc êm ả thoải mái, có lúc tê mê như nghe một đoạn nhạc giã từ. Hải cảm nhận trong lòng bật lên dòng âm thanh hòa điệu, bè với tiếng chim. Quấn quít thiết tha. Cảm giác rơi vào một vùng hạnh phúc trống vắng, mênh mông, sâu thẳm, không có gì ngoài trừ cảm xúc phập phồng.

Hải từ tốn tiến về hướng tiếng chim. Trên cành cây sồi, thấy một con chim màu vàng óng ả trong vệt nắng đang rút lui về núi. À, hoàng yến. Nhưng không đúng, mỏ nó màu đỏ. Một loại chim lạ. Chim hót hơi dài, không nhảy nhót, thỉnh thoảng cánh xòe ra. Một cảnh sân khấu thiên nhiên trên cành sồi. Một nghệ thuật trình diễn khung kép của Esthelman. Khung bên trong gắn khít khao khung bên ngoài, Hải thấy mình từ từ chuyển động, thân người uốn éo theo giai điệu, chân di chuyển nhẹ nhàng. Hải múa. Không phải, Hải phản ứng phù hợp theo tiếng chim. Tiếng hót thôi thúc. Tiếng hót dổ dành. Tiếng hót thôi miên. Chàng băng qua thời gian mà không để lại dấu vết gì. Gió thổi, mây trôi, mơ màng, si dại, Hải dưới đất, Hải trên trời, Hải đến Paris, Hải tình tự với Aliénoir, Hải về đến nhà với vợ.


Bụp. Chiếc guốc gỗ trúng ngay giữa lưng.

Hải rối chân, ngã lăn quay xuống đất. Linh cảm cho biết đã quá giờ phải về nhà. Nhìn xung quanh thật nhanh. Lồm cồm ngồi dậy. Trời đã quá chạng vạng. Đêm phủ dày. Con chim đã bay đi lúc nào không biết. Hải cảm thấy đau nhức giữa lưng. Chỉ tưởng tượng thôi mà đau như vậy.

Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, bây giờ, tràn ngập trở lại.

Vòng qua bên hông nhà, ngồi xuống trên thềm đá. Đâu đó trong trí tưởng, Hải thấy Néatrice, nữ hải tặc cười chế giễu.

- “Toi giỏi phản ứng với tình nhân, nhưng lại quá tệ đối với vợ. Toi có biết tại sao vợ toi ghen không?”

- “Máu xấu.”

- “Lúc nào cũng đùa. Vợ ghen chồng vì chuyện gì đó hiện tại nối kết chuyện quá khứ. Nếu xưa toi không bay bướm đào hoa, cứ như nhà tu nhà giáo, thì vợ không có lý do để ghen.”

– “Nhưng, moi đã dẹp hết rồi.”

– “Với quá khứ trai gái như vậy, lời nói hiện tại không bảo đảm cho tương lai. Thật ra, sở dĩ toi không cựa quậy vì elle ghen qua mức. Nếu không ghen trước ghen sau, moi chắc toi cũng sẽ quen thói cũ.”

– ”Làm sao biết?”

– “Bằng chứng là toi nhớ đến moi nhiều buổi chiều. Tệ hơn nữa, đêm đêm khi ngủ với vợ cứ tưởng tượng tình nhân nầy, tình nhân kia.”

– ”Toi là hải tặc, lúc nào mắt cũng mở thao láo. Toi có biết tại sao lúc yêu nhau người ta thường nhắm mắt không?”

– ”Ý của toi, là để tưởng tượng phải không? Không phải, nhắm mắt vì không muốn nhìn thấy nhau quá rõ.” 

Khi mới lấy nhau, Lựu là người vợ rất tốt. Lo lắng và hầu hạ chồng. Hải chỉ lo việc đi làm, mọi thứ khác do nàng điều khiển Vợ chồng không có con, nên dành nhiều thời giờ cho nhau.  Hải thường đàn cho Lựu hát. Cảnh đàn hát quấn quít bên nhau trông thật ấm cúng và dễ thương. Lúc đó, ai dám đoán trước tình hình vợ chồng về sau thương nhau bằng cách xâu xé.

Hải nói: - “Sống là một hành trình may rủi khi chuyện tốt chuyện xấu xảy ra.” Charlotte, cô giáo sư dạy toán ở Université Paris-Saclay, trả lời:

– “Chuyện xảy ra có thể đổ lỗi cho hên xui, nhưng quyết định để làm chuyện gì thì do người chịu trách nhiệm. Một bên là luật tự nhiên. Một bên là luật nhân quả.” Lúc còn ở bên nhau, Charlotte lúc nào cũng cứng rắn, tính toán và trật tự. Hải thì làm gì hầu như tùy thích. Khi mới ăn nằm với nhau, Charlotte thường xem đồng hồ lúc đang hành sự. Hải mất cảm hứng, hỏi tại sao. Câu trả lời khó giải thích. “Thói quen.”   

Charlotte nói, - “Hải, toi biết không, sau hai đời chồng, moi nghiệm ra một điều về tình yêu.”

– “Bài toán gì đây?”

– “Trong tình yêu, tình nhân và vợ chồng là hai phương trình khác nhau. Trong tình nhân, phương trình bao gồm ba biến số vô hạn: chàng , nàng, và yêu. Chỉ cần một biến số thay đổi, thì phương trình có hiệu quả khác. Trong vợ chồng, phương trình cũng có ba biến số: Chồng, vợ, và yêu nhưng ba biến số này tiến dần đến hằng số để có hiệu quả nhất định. Giấc mơ hằng số đó chỉ là hạnh phúc lý tưởng, sẽ không bao giờ xảy ra. Ba biến số chồng, vợ, yêu chỉ có thể tiến tới gần bản chất cụ thể của hằng số. Nói cách khác là nỗ lực giới hạn biến số. Khi cả ba biến số không có nhiều khả năng biến hóa, thì phương trình có thể kiểm soát được hiệu quả. Đó cũng là phương thuốc phục sinh tình yêu đã chết.”

– “Ba biến số giới hạn khả năng biến hóa để trở thành gần bằng hằng số cụ thể. Hay. Toi có thể lãnh giải Nobel về học thuyết bảo vệ hạnh phúc gia đình.”

Hải nhướng người lên, nhìn vào cửa sổ. Bà ngồi trên chiếc ghế bành, vẫn chưa mặc lại áo quần, tay cầm một khung hình úp vào ngực, mắt nhìn vào góc nhà, bất động. Ánh đèn solar duy nhất ngoài cửa sổ hắt vào, quăng một nắm ánh sáng lên tượng đá khỏa thân, toàn cảnh chỗ sáng chỗ mờ, đa phần âm u tối, trông đẹp kỳ quặc có phần dễ sợ.

Lần đầu tiên gặp Lựu, lúc đó Hải mới về từ Paris sau khi lấy bằng kỷ sư thiết kế. Là bạn học cũ với anh của Lựu, chiều đó, chàng đến nhà để cùng đi chơi chợ tết. Lựu xuất hiện trong chiếc áo dài vàng màu hoàng yến và đôi môi son đỏ theo mốt Paris đương thời, khiến Hải ngây người ngưỡng mộ. Em thật là đẹp, Lựu ơi.

Đêm tân hôn, Hải để ra cả tiếng đồng hồ để vuốt ve thân thể của Lựu. Từng ngón tay chấm đầu móng lên làn da, kéo dài ngẫu nhiên theo cảm giác đến những nơi tạo cảm xúc. Từng bàn tay sờ hờ hững cân nhắc lúc chạm nhẹ lúc không, rà rà từ chân lên mặt rồi quay xuống vần vù trên ngực, thổi nhẹ nhàng gió lướt qua lướt lại hai đỉnh sang xuân, rồi vòng ra sau mông, cào nhẹ nhẹ giữa đôi bờ nhúc nhích, len lỏi ra phía trước, năm ngón tay trở thành năm sinh vật nhắm mắt hồn nhiên hâm nóng hậu cung, thở hồi hộp công chúa sắp lên ngôi hoàng hậu. Lựu im lặng, cắn răng, trở trăn theo cảm xúc. Em thật là hiền, Lựu ơi.

Thời buổi này, cưới một người vợ còn trinh là chuyện hiếm có. Lựu ơi, em thật là hiếm hoi. Đau mà không nghe một âm thanh nào phản ứng. Lựu ơi, anh thật là yêu em.

Ai có thể cưới vợ về rồi để vợ khỏa thân ngồi một mình như tượng?

Ai là đàn ông mà không thể dùng yêu thương của mình xoa dịu cơn nóng giận của vợ, làm cho bớt đau buồn?

Ai là người khôn ngoan không biết hưởng thụ những thứ xấu để đạt được những thứ tốt?

Ông tự hỏi mình, hỏi luôn các tình nhân. Họ đều im lặng. Ông đứng dậy, mở cửa sau, bước vào nhà, nép sát vào vách tường nơi hành lang thông ra phòng khách. 

Rồi tiếng hát cất lên. Một giai điệu dịu dàng nhưng sắt bén trầm bổng nghiêng về cảm nhận hắt hiu, từ ghế bành len lỏi vào cảm giác say sưa. Hải nhắm mắt, hít vài hơi dài rồi quên đi những chuyện xung quanh, quăng tình ra giữa đời hoang, nhận nuốt từng âm thanh của ân sủng bất ngờ. Tiếng Lựu có lúc dịu vợi cao siêu, có lúc gợi tình nỗi hiu quạnh, có lúc êm ả thoải mái, có lúc tê mê như nghe một đoạn nhạc giã từ. Hải cảm nhận trong lòng bật lên dòng âm thanh hoà điệu, bè với tiếng em. Quấn quít thiết tha. Cảm giác rơi vào một vùng hạnh phúc trống vắng, mênh mông, sâu thẳm, không có gì ngoài trừ cảm xúc phập phồng.

Hải sững sốt, trước mặt chàng, trong âm u, tranh cảnh lờ mờ, một con chim màu vàng thấp thoáng mỏ đỏ, vừa hót vừa xòe cánh. Một cảnh sân khấu nghệ thuật giữa tử sinh. Một tình cờ trình diễn khung kép của Esthelman. Khung bên ngoài gắn khít khao khung bên trong, Hải thấy con chim lạ từ từ chuyển động, thân mình uốn éo theo giai điệu, chân di chuyển nhẹ nhàng. Nó múa. Không phải, nó phản ứng phối hợp theo tiếng hát. Tiếng thôi thúc. Tiếng dổ dành. Tiếng thôi miên. Hải và chim  băng qua thời gian mà không để lại dấu vết gì. Gió thổi, mây trôi, mơ màng, si dại, Hai đứa dưới đất, Hai đứa trên trời, Hai đứa về đến nhà.

Hải vói tay lấy cây đàn thùng treo trên tường. Ngồi xuống ghế bành. Thả hết tâm tình vào năm sợi rung. Chim múa. Chim đậu xuống vai chàng. Hai đầu kề vào nhau. Từng ngón tay chấm đầu móng lên sợi dây, kéo dài ngẫu nhiên theo cảm giác đến những nốt tạo cảm xúc. Từng bàn tay theo cảm hứng cân nhắc lúc nhẹ lúc không, chạy từ dưới lên cần đàn rồi quay xuống vần vù quanh lỗ tròn vang thành gió lướt qua lướt lại. Tay lén vòng ra sau mông, cào nhẹ nhẹ giữa đôi bờ nhúc nhích, len lỏi ra phía trước, năm ngón tay trở thành năm sinh vật nhắm mắt hồn nhiên hâm nóng hậu cung, thở hồi hộp. Com chim vẫn tiếp tục hót, trở trăn theo cảm xúc.

Tiếng hót vút lên cao. Hải rơi xuống lại trên năm dây đàn âm thanh cảm động. Tiếng hót, tiếng đàn quấn bện như dây xích, trói vào tận tâm tư, cả hai tan thành nhau, tiến dần về một hằng số nào đó trong vô tận.

Bỗng nhiên, Hải ưỡn người lên, không khí dao động, căn phòng rung rinh, ánh sáng tụ lại trước ngực chàng, nơi từ từ mọc ra một đôi môi màu đỏ, nhu mì, hé mở, phái ra tiếng hát của Lựu. Tiếng hát quen thuộc ngày xưa, hôm nay vừa thấm thấu thêm thứ gì mới lạ. Tiếng hát đó nhập vào tiếng chim hót, huyền ảo với tiếng đàn, cụ thể với đời người, mê mệt giữa đêm sâu lắng.

Đã lâu lắm rồi, hàng xóm trong khu phố mới nghe được tiếng đàn tiếng hát vừa quen vừa lạ mà mê người của vợ chồng Hải. Hơn thế nữa, lần này hai vợ chồng hát song ca.

Ngu Yên

Ghi chú:
(1)  “Lux”, thơ của Victor Hugo.
(2)  Công viên Miribel-Jonage: Nằm cách Lyon một khoảng cách ngắn, công viên này có sự kết hợp giữa rừng, hồ và bãi biển.
(3)  Tội lỗi là sự thiếu tình yêu. Của Anon.               
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.