Hôm nay,  

Sổ Tay Thượng Đỉnh

02/04/200900:00:00(Xem: 8731)

Sổ Tay Thượng Đỉnh

Nguyễn Xuân Nghĩa
Một Chuỗi Liên Hoàn Toàn Cầu...
Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama có mặc áo gì khi tới Luân Đôn, hoặc nói gì với giọng răng và gặp Nữ hoàng Elizabeth II như thế nào... thì đó là trò lăng xăng của truyền thông Mỹ và truyền thông thông ngôn của Việt Nam. Không đáng một giây suy tư cho thế giới.
Chỉ vì thế giới có nhiều vấn đề hệ trọng hơn.
***
Thượng đỉnh G20 chưa mở màn thì đã có những vụ biểu tình phản đối. Dân biểu tình là một mớ bòng bong hổ lốn.
Từ kỷ nguyên mị dân thời Tổng thống Bill Clinton tại Thượng đỉnh 1999 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ở Seattle, rất nhiều tổ chức đã thừa thắng xông lên. Và xuống đường đập phá. Họ là những đám thân cộng tới chống toàn cầu hoá, là các nhóm bảo vệ môi sinh đến chống tư bản chủ nghĩa hay ủng hộ quyền phá thai, phản đối tự do ngoại thương hoặc đòi xoá nợ cho các nước nghèo đến các lực lượng vô chính phủ - anarchist - và băng đảng ăn cướp, thổ phỉ. Ngần ấy tổ chức đều xuất hiện và tìm cách phá hoại các hội nghị quốc tế.
Rồi cứ tàn lụi dần vì những đòi hỏi mâu thuẫn lẫn nhưng hành động phá hoại vô trách nhiệm trong khi thế giới quan tâm đến khủng bố và kiểm soát an ninh chặt chẽ hơn cho các hội nghị. Năm nay, các nhóm phá hoại ấy bỗng dưng được mùa: thượng đỉnh G20 họp tại London để thảo luận về kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng. Cơ hội quá đẹp cho các nhóm phá hoại xuất hiện trước ống kính truyền hình. Tư lệnh Cảnh sát Thủ đô Anh gọi đó là "Mùa Hè Bất Mãn".
Nhưng rổi cũng đi vào lãng quên như một đám âm binh bị bóc bùa cắt dây. Trừ phi là quân khủng bố ra tay, chứ trò phá hoại ấy thật ra không đáng kể. Trái đất vẫn xoay và các hội nghị vẫn tiếp tục...
***
Trước khi thượng đỉnh G20 khai mạc, người ta đã thấy nhiều cuộc gặp gỡ song phương.
Người hùng của nước hung, Thủ tướng Vladimir Putin thì... om xòm vắng mặt - xin diễn nghĩa: công khai cho dân Nga biết rằng đệ tử của ông là Tổng thống Dmitri Medveded mới thay mặt Liên bang Nga phó hội quốc tế. Vì vậy, trước khi Thượng đỉnh G20 khai mạc, Medvedev đã gặp Thủ tướng Anh Gordon Brown, Thủ Đức Angela Merkel và Tổng thống Mỹ Barack Obama.
Đáng chú ý nhất là cuộc gặp gỡ Nga-Mỹ và lời tuyên bố... rất nhạt của cặp Medveded-Obama. Hai bên tập trung nói chuyện về hồ sơ mỏng nhất trong quan hệ đôi bên: tài giảm võ khí nguyên tử (hay hạt nhân, hay hạch tâm). Một món ăn chơi không đáng kể. Phải đợi thượng đỉnh NATO tại Baden-Baden của Đức và Strasbourg của Pháp (hai ngày ba và bốn) rồi thượng đỉnh Âu-Mỹ tại Praha (hai ngày năm và sáu) thì mới biết Obama và Medveded xoay trở đấu trí ra sao.
***
Bây giờ, hãy nói về các nước khác.
Lãnh tụ hai nước có trọng lượng nhất Âu Châu là Đức và Nga đã phó hội và gặp gỡ, đó là Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Nga Dmitri Medvedev. Hai người chẳng có chuyện gì quan trọng để nói về nghị trình kinh tế của G20 ngoại trừ bày tỏ "mối quan tâm chung về kinh tế tài chánh". Ngôn ngữ ngoại giao, tức là không có thực chất - và không thật. Họ nói chuyện khác.
Nga muốn Đức tiếp tục nêu vấn đề về việc 1) bành trướng ảnh hưởng của Minh ước NATO, 2) về nhu cầu tài giảm võ khí chiến lược, 3) và chấm dứt việc NATO đòi bảo vệ Ba Lan và Cộng hoà Tiệp. Thủ tướng Đức có thiện chí và thẩm quyền đặt ra các vấn đề ấy với Hoa Kỳ và thực tế đã nói ra như vậy. Ngược lại, Đức muốn Nga không sử dụng võ khí khí đốt để bắt bí kinh tế Âu Châu và nước Đức, một nước tiêu thụ khí đốt của Nga. Đang chuẩn bị bầu cử, Thủ tướng Merkel phải ưu tiên lo cho chuyện nội bộ hơn là một đồng minh chiến lược của Obama.


Bên cạnh Cộng hoà Liên bang Đức, Ba Lan là quốc gia đã bị đòn sóc lịch sử của cả Nga lẫn Đức và nay chỉ còn trông cậy vào Hoa Kỳ. Khi thấy hai nước láng giềng Đông Tây nói chuyện hoà giải, và Hoa Kỳ của Tổng thống Obama lại lửng lơ con cá vàng, lãnh đạo Ba Lan bỗng chột dạ.
Vì vậy, hôm 31, Ngoại trưởng Radoslaw Sikorski của Warsaw phải nói vọng vào thượng đỉnh, rằng Liên bang Nga nên gia nhập... Minh ước NATO!
Minh ước này là hệ thống phòng thủ Bắc Đại tây dương chống Liên Xô, nay lại đón nhận Liên bang Nga thì NATO còn là gì"
Ông Sikorski không điên, chẳng muốn đề nghị hoà giải với Nga mà chỉ muốn Hoa Kỳ tiếp tục việc tăng cường bảo vệ Ba Lan như đã hứa và trong khuôn khổ ấy, gia tăng viện trợ kỹ thuật quân sự cho Ba Lan, trước khi nói đến việc hợp tác với Nga. Nhân đó, người ta mới nhớ rằng từ tháng Tám năm ngoái, ông Sikorski đã trả lời phỏng vấn của tờ New York Times, rằng "Ba Lan đã bị Anh và Pháp phản bội và bỏ rơi trước nguy cơ tấn công của Nga và Đức. Đấy là biến cố trọng đại của xứ này  thế kỷ 20". Bây giờ, qua thế kỷ 21, Ba Lan không muốn chuyện cũ tái diễn, với sự góp phần tích cực của Hoa Kỳ.
Những tiếng nói ấy của Ba Lan, hay Hung Gia Lợi, Cộng hoà Tiệp hoặc ba nước Baltic, tất nhiên cũng gây nhiễu âm khó chịu cho các cuộc họp song phương nhân thượng đỉnh G20.
***
Thượng đỉnh này quy tụ 19 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất địa cầu. Thế giới chỉ nói đến thế liên hoàn tay ba giữa Hoa Kỳ, Âu Châu và Liên bang Nga mà quên mất nhiều khu vực khác.
Á Châu phó hội thì có Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Hàn và Nam Dương (Indonesia), chưa kể Hiệp hội ASEAN do Thái Lan đại diện.
Thủ tướng Nhật bận việc nhà - và có khi mất job - nên tương đối im hơi lặng tiềng. Nhưng cũng tặng Hoa Kỳ một đóa hoa đẹp trước khi vào G20: ủng hộ kế hoạch kích thích kinh tế của Obama. Vô thưởng vô phạt! Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc thì có tư thế khá hơn.
Bắc Kinh sẽ châm thêm tiền cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, đã nêu vấn đề về đồng Mỹ kim và ngày càng củng cố tư thế đại cường có trách nhiệm về chuyện quốc tế. Bên lề thượng đỉnh G20, Hội nghị song phương Hoa-Nga giữa Hồ Cẩm Đào và Dmitri Medvedev sẽ đẩy mạnh hơn nữa vai trò của IMF và góp phần thu hẹp khả năng xoay trở của Mỹ.
Đầy ấn tượng mà thiếu thực chất.
Các nước Á Châu khác không có tiếng nói gì nhiều tại thượng đỉnh này, ngoại trừ Ấn Độ và Nam Hàn trong hồ sơ WTO và nhu cầu đẩy lui phản ứng bảo hộ mậu dịch của hai khối Âu-Mỹ.
Có ba nước Trung Nam Mỹ là Mexico, Brazil và Argentina thì rõ là có quan điểm "sắc không". Ba xứ này, và có lẽ cả khu vực Trung Nam Mỹ, đã bị thế giới lãng quên trong vụ khủng hoảng và ít được truyền thông quốc tế nhắc tới. Thật ra, Mexico đang bị khủng hoảng về an ninh và sắp cần IMFcứu trợ trong khi Brazil là quốc gia có thế lực và ảnh hưởng mạnh nhất trong khu vực.
Một cường quốc khác cũng lẫy lừng vắng mặt tại thượng đỉnh G20 vì bận việc khác. Đó là xứ Turkey. Thành viên Hồi giáo quy nhất của NATO, đồng minh của Mỹ giữa một thế giới Hồi giáo đang bị cuốn hút giữa hai khối Á Rập theo hệ phái Sunni và Ba Tư theo hệ phái Shia, Thổ Nhĩ Kỳ là cường quốc có trọng lượng nhất. Và đóng chốt chặn Nga bên bờ Hắc hải.
Ngày mùng một, Turkey tổ chức hội nghị tay ba tại Ankara để lãnh đạo Pakistan và A Phú Hãn gặp gỡ và mùng sáu thì đón mừng Tổng thống Obama trong hai ngày thăm viếng. Ngần ấy hồ sơ nóng của Hoa Kỳ và Âu Châu, từ Iraq tới A Phú Hãn, từ Liên bang Nga đến Iran, hay Ukraine hoặc Trung Á.... đều cần tới sự tham dự của xứ này.
Đấy cũng là một tiết mục đáng chú ý trong những ngày tới - và những năm tới.

Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.