Hôm nay,  

Chùa Ruộng

07/07/201000:00:00(Xem: 7714)

Chùa Ruộng

Sư cô Thích Nữ Liên Khai nơi sân chùa Dương Lệ Văn.


Vĩnh Hảo


Một đời sống ổn định là ước mơ đơn giản của con người, bất luận giàu hay nghèo. Một ngôi chùa có sinh hoạt ổn định là ngôi chùa có tăng hay ni trụ trì, hướng dẫn bá tánh tu tập.
Chùa Dương Lệ Văn không được như thế. Chùa này đã nhiều năm không có tăng hay ni đến; thảng hoặc có vị đến thì cũng chủ trì một đại lễ nào đó rồi cũng đi, không ở lại. Lý do không phải chỉ vì chùa nghèo không có phòng ốc nào dành cho tăng ni trú ngụ, mà còn vì cứ mỗi mùa mưa bão, chùa chìm ngập trong cánh đồng nước; có khi mực nước lên cao đến hai mét.
Năm nào có mưa lớn là chùa bị lụt. Đây là tình trạng thường xuyên của chùa cũng như của nhiều nhà cửa của dân chung quanh. Lý do là vì chùa nằm ở giữa một khoảng đồng ruộng thênh thang, đất thấp. Ở một vị trí như vậy, được cái là quanh năm hưởng không khí yên tĩnh, khoảng khoát vào mùa khô, nhưng hễ mưa lớn thì ngôi chùa trở thành “con thuyền bát-nhã” trôi giữa đồng nước mênh mông.


Quí ni bên hông căn bếp phía sau chánh điện chùa Dương Lệ Văn.

Chùa được đặt tên là Dương Lệ Văn. Nhìn bảng chùa khắc bằng chữ Hán trong một tấm hình thì chỉ thấy đề “Dương Văn Tự” (chùa Dương Văn), có lẽ là rút bớt chữ Lệ để tên chùa được gọn thành hai chữ như thông lệ của hầu hết các chùa Việt Nam. Tên cũng lạ, không gợi cho phật-tử một ý niệm nào về danh số, từ ngữ, thành ngữ hay điển tích Phật học nào. Tìm hiểu mới biết Dương Lệ Văn là tên của một làng thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Vậy có thể nói đây là chùa của làng, do dân trong làng lập nên từ xưa. Nhu cầu của dân làng có vẻ chỉ là một ngôi chánh điện thờ Phật để các ngày sóc vọng đến thắp nhang, lễ bái, khấn nguyện. Sau lưng ngôi chánh điện là một cái chái che bằng tôn, có lẽ được dùng làm bếp nấu vào những ngày dân làng tụ họp ở chùa.
Như thế, qua ngôi chùa, người ta có thể nhìn ra mực sống của phật-tử trong làng. Phật-tử nghèo, sống bằng nghề làm ruộng, nêm việc cúng dường, xây cất, cung ứng cho mọi sinh hoạt của chùa là bằng những hạt lúa và hoa màu thu gặt được từ ruộng vườn của họ. Nhiều năm qua, phật-tử địa phương chưa cung thỉnh được tăng ni nào để trực tiếp hướng dẫn việc tu học, tụng niệm; và cần nhất là hôm sớm có câu kinh tiếng kệ ấm cúng cảnh thiền môn. Dù vậy, một số phật-tử thuần thành trong làng vẫn siêng năng đến chùa tụng niệm vào mỗi tối, từ 80 đến 100 người; còn mỗi chiều chủ nhật, có Gia Đình Phật Tử sinh hoạt với khoảng 150 đoàn sinh. Với số người đến chùa thường xuyên ở mức đó, có thể xem là khá đông đảo, nhưng ngôi chùa mà thiếu hình bóng tăng ni giống như nhà không nóc.


Cảnh chung quanh chùa Dương Lệ Văn.


Duyên lành là một trong những phật-tử của chùa đi thăm bà con ở vùng kinh tế mới Bàu Cạn, đã tình cờ đến chùa ThanhTrì lễ bái, gặp Sư cô trụ trì Thích Nữ Liên Khai, trình bày nhu cầu của ban hộ tự chùa Dương Lệ Văn cần tăng ni hướng dẫn. Sư cô Thích Nữ Liên Khai hoan hỷ chấp thuận; sau đó, đáp lời mời của ban hộ tự, Sư cô đưa bốn vị đệ tử (trong đó có một vị tỳ kheo ni, một vị thức-xoa ma-na và hai tiểu ni) ra Quảng Trị để giúp.


Sư cô Thích Nữ Liên Khai đã từng dấn thân đến vùng kinh tế mới Bàu Cạn để hoằng pháp, nay đối với ngôi chùa ở vùng xa xôi nghèo khó đất Quảng Trị, cũng không chối từ. Đây là tâm nguyện cao đẹp, thật đáng tán dương. Trong thời gian đầu, Sư cô Liên Khai đích thân ra Quảng Trị để chăm sóc, hướng dẫn và giao dần cho vị đệ tử là Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm trực tiếp đảm trách.
Đáng mừng, đáng vui cho ngôi chùa ở vùng ruộng đã có Ni chúng đến tiếp nhận, nhưng việc phát triển, tạo sinh hoạt ổn định và an toàn cho các Ni trẻ ở chùa này là điều mà Sư cô đang quan tâm mà e ngại, không dám trao đổi với ban hộ tự và phật-tử địa phương. Khi hoan hỷ tiếp nhận lãnh đạo tinh thần cho ngôi chùa, Sư cô không suy nghĩ cân nhắc gì; đến khi hiểu rõ hoàn cảnh tài chánh eo hẹp và điều kiện phòng ốc không bảo đảm cho các đệ tử tuổi trẻ của mình nếu xảy ra lụt lội, Sư cô cũng im lặng không nói ra, vì không muốn những ưu tư của mình trở thành gánh nặng cho phật-tử đồng quê nghèo khó.


Cảnh trước chùa, có một sân xi măng lý tưởng để… “phơi lúa”.

Trước mắt, phải lo phần kinh tế tự túc thế nào để Ni chúng không quá vất vả, và các sa-di được điều kiện thuận lợi để tiếp tục đi học. Nếu lấy việc làm ruộng làm căn bản cho kinh tế chùa, e rằng Ni chúng không còn nhiều thời gian để tu học. Thứ nữa, một Ni phòng hay Ni xá cũng cần phải xây dựng để có nơi nghỉ cho quí Ni thường trú, mà Ni xá này phải được xây trên nền cao, kiên cố để tránh hiểm nguy khi gặp mùa bão lụt, chứ không thể sử dụng căn chái lợp tôn tạm bợ phía sau chánh điện như hiện nay.
Từ phương xa, ngồi viết những giòng này là để nói thay Sư cô những điều không thể nói hết, kính gửi đến chư tôn đức và bạn đạo ở khắp nơi, xin mỗi người một tay góp phần công đức, duy trì và phát triển ngôi chùa của làng Dương Lệ Văn, hỗ trợ việc tu học cho các Ni trẻ cùng sinh hoạt giáo dục của Gia Đình Phật Tử địa phương.
Chùa Dương Lệ Văn, hãy gọi bằng một tên mộc mạc gần gũi với người dân quê và hoàn cảnh thực của nó là “Chùa Ruộng.” Giữa làng nước quê hương, mọc lên như một đóa sen tỏa ngời hương đạo. Hy vọng trong những mùa mưa bão sắp tới, không là ngôi chùa ngập trong ruộng nước; mà sẽ xứng đáng là ruộng phước để người hữu duyên gieo trồng và gặt hái những thành quả tốt đẹp của đạo vàng Như Lai.
California, ngày 05 tháng 7 năm 2010
Vĩnh Hảo
GHI CHÚ:
Tịnh tài đóng góp xây Ni xá hoặc cúng dường Ni chúng, xin liên lạc:
-- Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm (Lê Thị Bích)
Chùa Dương Lệ Văn
Xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam
Điện thoại: 0533867034
Điện thoại di động: 0168.919.9284
Hoặc liên lạc, gửi tịnh tài qua trung gian:
-- Sư cô Thích Nữ Liên Khai (Nguyễn Thị Phương Hoa)
Chùa Thanh Trì
Xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam
Điện thoại: 0613553151
(Chi phiếu hoặc tin nhắn khi chuyển tiền, xin ghi rõ ở phần Memo / Ghi chú:
“Cúng dường Ni xá và Ni chúng chùa Dương Lệ Văn”)
Thành kính tri ân và xin hồi hướng công đức cúng dường đến tất cả chúng sinh, nguyện thành Phật đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.