Hôm nay,  

Chùa Ruộng

07/07/201000:00:00(Xem: 8724)

Chùa Ruộng

Sư cô Thích Nữ Liên Khai nơi sân chùa Dương Lệ Văn.


Vĩnh Hảo


Một đời sống ổn định là ước mơ đơn giản của con người, bất luận giàu hay nghèo. Một ngôi chùa có sinh hoạt ổn định là ngôi chùa có tăng hay ni trụ trì, hướng dẫn bá tánh tu tập.
Chùa Dương Lệ Văn không được như thế. Chùa này đã nhiều năm không có tăng hay ni đến; thảng hoặc có vị đến thì cũng chủ trì một đại lễ nào đó rồi cũng đi, không ở lại. Lý do không phải chỉ vì chùa nghèo không có phòng ốc nào dành cho tăng ni trú ngụ, mà còn vì cứ mỗi mùa mưa bão, chùa chìm ngập trong cánh đồng nước; có khi mực nước lên cao đến hai mét.
Năm nào có mưa lớn là chùa bị lụt. Đây là tình trạng thường xuyên của chùa cũng như của nhiều nhà cửa của dân chung quanh. Lý do là vì chùa nằm ở giữa một khoảng đồng ruộng thênh thang, đất thấp. Ở một vị trí như vậy, được cái là quanh năm hưởng không khí yên tĩnh, khoảng khoát vào mùa khô, nhưng hễ mưa lớn thì ngôi chùa trở thành “con thuyền bát-nhã” trôi giữa đồng nước mênh mông.


Quí ni bên hông căn bếp phía sau chánh điện chùa Dương Lệ Văn.

Chùa được đặt tên là Dương Lệ Văn. Nhìn bảng chùa khắc bằng chữ Hán trong một tấm hình thì chỉ thấy đề “Dương Văn Tự” (chùa Dương Văn), có lẽ là rút bớt chữ Lệ để tên chùa được gọn thành hai chữ như thông lệ của hầu hết các chùa Việt Nam. Tên cũng lạ, không gợi cho phật-tử một ý niệm nào về danh số, từ ngữ, thành ngữ hay điển tích Phật học nào. Tìm hiểu mới biết Dương Lệ Văn là tên của một làng thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Vậy có thể nói đây là chùa của làng, do dân trong làng lập nên từ xưa. Nhu cầu của dân làng có vẻ chỉ là một ngôi chánh điện thờ Phật để các ngày sóc vọng đến thắp nhang, lễ bái, khấn nguyện. Sau lưng ngôi chánh điện là một cái chái che bằng tôn, có lẽ được dùng làm bếp nấu vào những ngày dân làng tụ họp ở chùa.
Như thế, qua ngôi chùa, người ta có thể nhìn ra mực sống của phật-tử trong làng. Phật-tử nghèo, sống bằng nghề làm ruộng, nêm việc cúng dường, xây cất, cung ứng cho mọi sinh hoạt của chùa là bằng những hạt lúa và hoa màu thu gặt được từ ruộng vườn của họ. Nhiều năm qua, phật-tử địa phương chưa cung thỉnh được tăng ni nào để trực tiếp hướng dẫn việc tu học, tụng niệm; và cần nhất là hôm sớm có câu kinh tiếng kệ ấm cúng cảnh thiền môn. Dù vậy, một số phật-tử thuần thành trong làng vẫn siêng năng đến chùa tụng niệm vào mỗi tối, từ 80 đến 100 người; còn mỗi chiều chủ nhật, có Gia Đình Phật Tử sinh hoạt với khoảng 150 đoàn sinh. Với số người đến chùa thường xuyên ở mức đó, có thể xem là khá đông đảo, nhưng ngôi chùa mà thiếu hình bóng tăng ni giống như nhà không nóc.


Cảnh chung quanh chùa Dương Lệ Văn.


Duyên lành là một trong những phật-tử của chùa đi thăm bà con ở vùng kinh tế mới Bàu Cạn, đã tình cờ đến chùa ThanhTrì lễ bái, gặp Sư cô trụ trì Thích Nữ Liên Khai, trình bày nhu cầu của ban hộ tự chùa Dương Lệ Văn cần tăng ni hướng dẫn. Sư cô Thích Nữ Liên Khai hoan hỷ chấp thuận; sau đó, đáp lời mời của ban hộ tự, Sư cô đưa bốn vị đệ tử (trong đó có một vị tỳ kheo ni, một vị thức-xoa ma-na và hai tiểu ni) ra Quảng Trị để giúp.


Sư cô Thích Nữ Liên Khai đã từng dấn thân đến vùng kinh tế mới Bàu Cạn để hoằng pháp, nay đối với ngôi chùa ở vùng xa xôi nghèo khó đất Quảng Trị, cũng không chối từ. Đây là tâm nguyện cao đẹp, thật đáng tán dương. Trong thời gian đầu, Sư cô Liên Khai đích thân ra Quảng Trị để chăm sóc, hướng dẫn và giao dần cho vị đệ tử là Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm trực tiếp đảm trách.
Đáng mừng, đáng vui cho ngôi chùa ở vùng ruộng đã có Ni chúng đến tiếp nhận, nhưng việc phát triển, tạo sinh hoạt ổn định và an toàn cho các Ni trẻ ở chùa này là điều mà Sư cô đang quan tâm mà e ngại, không dám trao đổi với ban hộ tự và phật-tử địa phương. Khi hoan hỷ tiếp nhận lãnh đạo tinh thần cho ngôi chùa, Sư cô không suy nghĩ cân nhắc gì; đến khi hiểu rõ hoàn cảnh tài chánh eo hẹp và điều kiện phòng ốc không bảo đảm cho các đệ tử tuổi trẻ của mình nếu xảy ra lụt lội, Sư cô cũng im lặng không nói ra, vì không muốn những ưu tư của mình trở thành gánh nặng cho phật-tử đồng quê nghèo khó.


Cảnh trước chùa, có một sân xi măng lý tưởng để… “phơi lúa”.

Trước mắt, phải lo phần kinh tế tự túc thế nào để Ni chúng không quá vất vả, và các sa-di được điều kiện thuận lợi để tiếp tục đi học. Nếu lấy việc làm ruộng làm căn bản cho kinh tế chùa, e rằng Ni chúng không còn nhiều thời gian để tu học. Thứ nữa, một Ni phòng hay Ni xá cũng cần phải xây dựng để có nơi nghỉ cho quí Ni thường trú, mà Ni xá này phải được xây trên nền cao, kiên cố để tránh hiểm nguy khi gặp mùa bão lụt, chứ không thể sử dụng căn chái lợp tôn tạm bợ phía sau chánh điện như hiện nay.
Từ phương xa, ngồi viết những giòng này là để nói thay Sư cô những điều không thể nói hết, kính gửi đến chư tôn đức và bạn đạo ở khắp nơi, xin mỗi người một tay góp phần công đức, duy trì và phát triển ngôi chùa của làng Dương Lệ Văn, hỗ trợ việc tu học cho các Ni trẻ cùng sinh hoạt giáo dục của Gia Đình Phật Tử địa phương.
Chùa Dương Lệ Văn, hãy gọi bằng một tên mộc mạc gần gũi với người dân quê và hoàn cảnh thực của nó là “Chùa Ruộng.” Giữa làng nước quê hương, mọc lên như một đóa sen tỏa ngời hương đạo. Hy vọng trong những mùa mưa bão sắp tới, không là ngôi chùa ngập trong ruộng nước; mà sẽ xứng đáng là ruộng phước để người hữu duyên gieo trồng và gặt hái những thành quả tốt đẹp của đạo vàng Như Lai.
California, ngày 05 tháng 7 năm 2010
Vĩnh Hảo
GHI CHÚ:
Tịnh tài đóng góp xây Ni xá hoặc cúng dường Ni chúng, xin liên lạc:
-- Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm (Lê Thị Bích)
Chùa Dương Lệ Văn
Xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam
Điện thoại: 0533867034
Điện thoại di động: 0168.919.9284
Hoặc liên lạc, gửi tịnh tài qua trung gian:
-- Sư cô Thích Nữ Liên Khai (Nguyễn Thị Phương Hoa)
Chùa Thanh Trì
Xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam
Điện thoại: 0613553151
(Chi phiếu hoặc tin nhắn khi chuyển tiền, xin ghi rõ ở phần Memo / Ghi chú:
“Cúng dường Ni xá và Ni chúng chùa Dương Lệ Văn”)
Thành kính tri ân và xin hồi hướng công đức cúng dường đến tất cả chúng sinh, nguyện thành Phật đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.