Hôm nay,  

Thiếu Nước Thừa Lửa - Chuyện Tây Tạng

19/04/201200:00:00(Xem: 13463)
...từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á...

Trong khi thế giới bàng hoàng vì hàng loạt những vụ người Tây Tạng tự thiêu tại Trung Quốc, một cái nhìn kinh tế lại soi rọi nhiều vấn đề còn nghiêm trọng hơn từ quốc gia này. Đó là việc phát triển khu vực nội địa mà Bắc Kinh gọi là "Trung Bộ" của Trung Quốc, là nan đề không có giải pháp. Nguy kịch hơn thế còn có nạn lạm thác nguồn nước ngọt từ rặng Hy Mã Lạp Sơn khiến cả tỷ người dân, ngay tại Trung Quốc và trong các nước lân bang khác của Châu Á sẽ lâm vào cảnh thiếu nước. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những bài toán phức tạp này trong phần trao đổi sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á Châu Tự Do.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, khi theo dõi chương trình phân tích kinh tế của ông, dường như thính giả có thấy ra một lối nhìn là tập trung chú ý vào nền tảng dịa dư hình thể để giải thích một số chuyển động ngầm hầu có thể dự báo những xoay vần kinh tế trong dài hạn. Cách nhìn đó cũng khiến ông đã nhiều lần nhấn mạnh tới tình trạng bất ổn gần như bẩm sinh vì gắn liền với địa dư của Trung Quốc. Bây giờ, qua vụ người dân Tây Tạng đã tự thiêu hàng loạt trong hơn một năm vừa qua, ông nhìn thấy những gì để có thể chia sẻ với thính giả?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng khi mới lên cầm quyền, lãnh đạo xứ nào cũng có thể nghĩ là mình mở ra một vận hội mới có thể thay đổi bộ mặt thế giới hay tương lai của quốc gia. Sự thật thì họ vẫn bị gò bó bởi yếu tố khách quan nhất là địa dư hình thể của địa bàn sinh hoạt.

- Từ khi sáng lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc vào năm 1949, lãnh đạo Bắc Kinh chủ quan lầm tưởng rằng họ sẽ làm được chuyện động trời, trong khi thể chế chính trị độc tài của họ lại không giải quyết được những bài toán sinh tử do thiên nhiên đặt ra, loại bài toán mà quốc gia nào cũng có thể gặp. Bây giờ, xuyên qua chuyện dân Tây Tạng tự thiêu, ta có thể thấy ra một số bài toán kinh tế rộng lớn hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước lân bang.

Vũ Hoàng: Và như thông lệ, ông sẽ lại bắt đầu bằng tấm bản đồ như ông thường ví von, để nói về địa dư.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa tấm bản đồ và cả cuốn lịch, để xác định không gian và thời gian!

- Trước hết, Tây Tạng là quốc gia độc lập, xưa kia từng là đế quốc hùng mạnh ngang ngửa Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ngay sau khi làm chủ Hoa lục, Mao Trạch Đông tấn công các tỉnh miền Đông của Tây Tạng vào năm 1950 rồi thôn tính luôn xứ này kể từ Tháng Ba năm 1959. Tây Tạng có diện tích rộng lớn bằng cả cõi Tây Âu và nằm trên đỉnh của Cao nguyên Tây Tạng bên rặng Hy Mã Lạp Sơn là nơi phát nguyên ra các con sông lớn nhất của Châu Á.

- Sau khi chiếm đóng, lãnh đạo Trung Quốc vẽ lại bản đồ Tây Tạng. Họ gọi phân nửa lãnh thổ xứ này là "Khu Tự trị Tây Tạng" - gồm tỉnh Ngari ở miền Tây và hai tỉnh U và Tsang ở trung bộ. Phần còn lại là hai tỉnh Amdo và Kham ở miền Đông thì bị sát nhập vào ba tỉnh lân cận là Thanh Hải, Cam Túc và Tứ Xuyên. Rồi họ nhập nhằng gọi chung tất cả là Cao nguyên Thanh Tạng.

- Không chỉ vẽ lại bản đồ, Bắc Kinh còn tiến hành chính sách cưỡng bách di dân theo hai hướng. Đó là đưa người Hán vào làm chủ khu vực Tây Tạng và thứ hai đưa dân Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ truyền thống của họ để sống trà trộn như người thiểu số tại các tỉnh lân cận.

- Khi theo dõi tin tức về các vụ tự thiêu của tăng ni và dân Tây Tạng nói chung, có lẽ là 34 người kể từ Tháng Ba năm ngoái, chưa nói đến nhiều người treo cổ tự ải trong tù, thì ta thấy ra sự lạ: đến 26 vụ tự thiêu để phản đối ách cai trị của Trung Quốc lại xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, sáu vụ ở Thanh Hải và một ở Cam Túc, duy nhất có một vụ ở trong Khu Tự trị. Có lẽ đấy là quy luật "gieo gió gặt bão" vì sự biến xảy ra trong khu vực sinh hoạt đa diện của nhiều sắc dân và dễ loan truyền mà lại khó khoanh vùng ém tin trong hang hốc hay tu viện hẻo lánh trên núi Tây Tạng.

- Một kết luận khác là chính sách di dân để pha loãng và triệt tiêu bản sắc Tây Tạng đã thất bại. Trong khi ấy, người Hán vào sinh sống trên đất Tây Tạng có khi lại thấy họ không được nâng đỡ và bất mãn ra mặt. Đó là bài toán phản ảnh những khó khăn của lãnh đạo Trung Quốc khi cần hội nhập các sắc dân thiểu số hoặc loại dị tộc thường xuyên bị khinh thị, đàn áp và lấn át.

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông về cách trình bày sự thể địa dư này. Nó cho thấy sự chuyển dịch trong phong trào phản kháng của dân Tây Tạng ngày một quyết liệt hơn ở bên ngoài Khu Tự trị và sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh khi bất ổn lại xảy ra nhiều nhất ở tỉnh Tứ Xuyên, vốn dĩ cũng là nơi có thành phố Trùng Khánh khá nổi tiếng vừa qua với vụ Bí thư Bạc Hy Lai bị cách chức và hạ bệ. Bây giờ, cũng với tấm bản đồ trong tay, người ta còn thấy ra những vấn đề gì khác của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta cứ nói đến phạm trù gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế vì những phân bố địa dư của Trung Quốc. Tôi xin điểm lại từ trong ra ngoài:

- Khu vực ngoại biên như Tây Tạng, Tân Cương hay Nội Mông, Mãn Châu là nơi mà yêu cầu an ninh gây rất nhiều tốn kém vì là vùng trái độn quân sự để bảo vệ cõi Trung Nguyên của Hán tộc. Đây là nơi ta đang thấy mầm loạn, từ Tân Cương qua Tây Tạng. Ở giữa có khu vực nội địa gồm các tỉnh bị khoá trong lục địa và có chung đặc tính là chẳng tiếp giáp với đại dương mà lại tiếp cận với các sa mạc thảo nguyên hiểm trở và nhất là rặng Hy Mã Lạp Sơn. Đây là nơi có 500 triệu dân sống rất nghèo khổ và cũng là nơi xuất phát mầm loạn hay "cách mạng" trong lịch sử. Sau cùng mới là đất Trung Nguyên của Hán tộc là các tỉnh duyên hải tương đối trù phú hơn ở miền Đông vì mở ra buôn bán với bên ngoài và cứ được thế giới trầm trồ ngợi khen.

- Thời Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Chu Dung Cơ, lãnh đạo đã phát động "Kế hoạch Tây Tiến" để mở mang các tỉnh lạc hậu bị khóa ở miền Tây mà không thành. Tháng Ba năm 2005, thế hệ lãnh đạo nối tiếp là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng lại lập ra kế hoạch gọi là "Quật khởi Trung Bộ" để phát triển sáu tỉnh bên trong là Sơn Tây, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây. Kế hoạch ấy cũng gặp trở ngại và sẽ là bài toán cho thế hệ nối tiếp.


Vũ Hoàng: Trong khi Tây Tạng có biến thì Trung Bộ vẫn chưa theo kịp các tỉnh duyên hải miền Đông, có phải là ông muốn nói như vậy không? Mà thưa ông, đâu là lý do của thất bại?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu kể thêm đất Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh thì ta hãy tưởng tượng ra một khu vực rộng lớn gần hai triệu cây số vuông của nửa tỷ người bị kẹt trong đất liền và khó thông thương với bên ngoài. Nhưng sự thể còn gian nan hơn vậy vì các tỉnh bên trong lại cũng khó thông thương với nhau!

- Trước hết và tương đối giàu nhất khu vực Trung Bộ này là mạn Bắc của sông Dương Tử, nơi có thành phố Trùng Khánh và tỉnh Hồ Bắc. Lãnh đạo Bắc Kinh muốn phát triển vùng này và trông cậy vào sông Dương Tử. Thứ nữa là hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây nằm ở phía Nam sông Dương Tử giữa Lòng chảo Tứ Xuyên và rặng núi Vũ Di, chung quanh ba mặt đều là núi, chỉ có một ngả thông thương là sông Dương Tử.

- Thứ ba là vùng Bình nguyên miền Bắc bao trùm lên từng phần của các tỉnh Hà Nam, An Huy, và Sơn Đông, Giang Tô lẫn cả Chiết Giang. Đây là trung tâm nông nghiệp mà cũng là một vựa lúa thiếu nước. Sau cùng, thứ tư là vùng đất từ hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây có ưu thế cung cấp than đá và khoáng sản cho hai thành phố duyên hải là Bắc Kinh và Thiên Tân. Mà than đá hay nguyên liệu là sản phẩm cũng cần tới năng lượng và nhất là cần nước.

- Bốn khu vực gọi là Trung Bộ không tiếp giáp với đại dương và là nơi mà chuyển vận khó khăn đòi hỏi kinh phí đầu tư rất cao. Khi Bắc Kinh theo đuổi chiến lược xuất khẩu bằng mọi giá thì các khu vực này bị tụt hậu. Bây giờ họ muốn cải thiện để phần nào san bằng dị biệt và bất công thì lại gặp vấn đề cơ bản là thiếu nước ngọt. Với sự chủ quan duy ý chí là quăng tiền vào đầu tư mà bất cần tới phí tổn, Trung Quốc vẫn gặp giới hạn của thiên nhiên và lại tiếp tục làm bậy!

Vũ Hoàng: Nhiều lần ông nhắc tới hiện tượng thiếu nước ngọt. Thưa ông, cái chuyện ấy là gì và nguy ngập đến cỡ nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc hiện đang kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng và một phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn là đỉnh cao nhất của địa cầu, nơi mà băng tuyết cũng mở ra sinh lộ cho các con sông lớn nhất Châu Á, trước tiên là Hoàng Hà và Dương Tử. Người ta gọi đó là "tháp nước" của địa cầu, nguồn sống cho một tỷ người Á Châu trong đó có 300 triệu dân Trung Quốc.

- Từ nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc đã lạm thác lâm sản dưới chân Hy Mã Lạp Sơn và gây lũ lụt cho hạ nguồn ở dưới. Thế rồi tiến trình gọi là công nghiệp hoá rất thiếu suy tính đã xâm phạm đỉnh trời và có thể là đẩy lui các tảng băng sơn trên đỉnh, bình quân một năm thì mất 7%. Nghĩa là làm giảm lượng nước cho ngần ấy con sông ở dưới Cao nguyên Tây Tạng. Nối tiếp là cả vạn dự án xây đập thủy điện để tìm năng lượng, làm biến đổi trật tự thiên nhiên và môi sinh của các con sông, kể cả sông Mekong của năm nước Đông Nam Á ở dưới.

- Nhưng chủ quan và ích kỷ đến độ tự sát, Trung Quốc còn muốn khơi dòng Dương Tử bằng nhiều con kinh nhân tạo để tiếp nước vào sông Hoàng Hà hầu tiêu tưới cho các tỉnh miền Bắc. Từ ngàn xưa, lãnh đạo xứ này đã cố dẫn nước từ miền Nam lên miền Bắc, Mao Trạch Đông đã mở ra kế hoạch gọi là "Nam Thủy Bắc Điều" và các thế hệ nổi tiếp tiếp tục thực hiện. Kết quả là những trái bom nổ chậm về môi sinh hay động đất nằm ngay tại Trung Bộ và tai họa chết người cho hầu hết các lân bang. Trung Quốc đang cướp nước trong nghĩa đen vì tước đoạt nguồn nước của thiên hạ. Chuyện Cửu Long cạn dòng ở nước ta mới chỉ là một phần thôi. Cho nên, từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á.

Vũ Hoàng: Từ chuyện dân Tây Tạng tự thiêu đến chuyện Á Châu thiếu nước, hình như ông vừa trình bày nhiều chuyện sinh tử qua tấm bản đồ và các kế hoạch chủ quan của Trung Quốc. Nhưng thưa ông, nguy cơ thiếu nước đó nó nghiêm trọng đến chừng nào mà vì sao người ta phải quan tâm?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung, Á Châu là nơi có các nền kinh tế đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Tiến trình phát triển thì có công nghiệp hoá và đô thị hóa với yêu cầu về nước ngọt sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Như Ấn Độ và Trung Quốc thì quy tụ 37% dân số địa cầu mà chỉ có 11% lượng nước ngọt của thế giới. Nếu tính cho cả Á Châu thì họ chỉ có tôi xin gọi là "khẩu phần nước ngọt" theo đầu người bằng phân nửa bình quân của thế giới. Tức là đang thiếu và sẽ còn thiếu nặng. Á Châu cũng là nơi có hiệu năng tiêu thụ và sản xuất kém nhất về nước ngọt, tức là gây lãng phí đến độ xài nước của các thế hệ sau này.

- Trong hoàn cảnh chung đã đen tối, Trung Quốc lại chỉ nghĩ đến mình nên vừa phá hủy nguồn nước trên đỉnh trời Tây Tạng khi lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn mà còn cưỡng đoạt nguồn nước của các lân bang, từ Pakistan qua Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, Miến Điện, Thái Lan đến ba nước Đông Dương. Ở bên trong, việc công nghiệp hoá bất kể đến môi sinh và an toàn sẽ gây họa cho chính người dân của họ với mấy vạn dự án xây đập nước và cả triệu trường hợp không xử lý phế vật thải ra từ nhà máy và cứ chảy thẳng ra sông và thấm xuống các mạch nước ngọt ở dưới.

Vũ Hoàng: Kết luận đó của ông quả là điều rất đáng quan tâm cho các nước Á Châu, nhất là cho một quốc gia sống nhờ sông Mekong và chuyên về lúa nước như Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi nói về địa dư hình thể và tài nguyên do thiên nhiên đem lại, ta có thể kết luận là Châu Á đã mở ra viễn ảnh ghê người là các quốc gia sẽ tranh chấp không chỉ để giành lấy đất đai hay dầu khí như các nước khác trong tiến trình công nghiệp hoá của thế kỷ 19 và 20. Qua thế kỷ 21, Á Châu dễ có xung đột để giành nguồn sống là nước ngọt. Động thái của Trung Quốc báo hiệu điều ấy, không chỉ ở ngoài Đông hải mà trên từ trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Người ta không nên thờ ơ với những gì xảy ra cho Tây Tạng vì đấy chỉ là mặt nổi của những tai họa còn ghê gớm hơn cho tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc từ Ấn Độ tới Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Ý kiến bạn đọc
19/04/201217:00:35
Khách
Cám ơn Ông NX Nghĩa đã cho đọc một bài viết vô cùng hay. Rất khâm phục kiến thức rất rộng của ông. Hy vọng đươc tiếp tục đọc bài viết của ông.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.