Hôm nay,  

Thiếu Nước Thừa Lửa - Chuyện Tây Tạng

4/19/201200:00:00(View: 13464)
...từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á...

Trong khi thế giới bàng hoàng vì hàng loạt những vụ người Tây Tạng tự thiêu tại Trung Quốc, một cái nhìn kinh tế lại soi rọi nhiều vấn đề còn nghiêm trọng hơn từ quốc gia này. Đó là việc phát triển khu vực nội địa mà Bắc Kinh gọi là "Trung Bộ" của Trung Quốc, là nan đề không có giải pháp. Nguy kịch hơn thế còn có nạn lạm thác nguồn nước ngọt từ rặng Hy Mã Lạp Sơn khiến cả tỷ người dân, ngay tại Trung Quốc và trong các nước lân bang khác của Châu Á sẽ lâm vào cảnh thiếu nước. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những bài toán phức tạp này trong phần trao đổi sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á Châu Tự Do.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, khi theo dõi chương trình phân tích kinh tế của ông, dường như thính giả có thấy ra một lối nhìn là tập trung chú ý vào nền tảng dịa dư hình thể để giải thích một số chuyển động ngầm hầu có thể dự báo những xoay vần kinh tế trong dài hạn. Cách nhìn đó cũng khiến ông đã nhiều lần nhấn mạnh tới tình trạng bất ổn gần như bẩm sinh vì gắn liền với địa dư của Trung Quốc. Bây giờ, qua vụ người dân Tây Tạng đã tự thiêu hàng loạt trong hơn một năm vừa qua, ông nhìn thấy những gì để có thể chia sẻ với thính giả?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng khi mới lên cầm quyền, lãnh đạo xứ nào cũng có thể nghĩ là mình mở ra một vận hội mới có thể thay đổi bộ mặt thế giới hay tương lai của quốc gia. Sự thật thì họ vẫn bị gò bó bởi yếu tố khách quan nhất là địa dư hình thể của địa bàn sinh hoạt.

- Từ khi sáng lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc vào năm 1949, lãnh đạo Bắc Kinh chủ quan lầm tưởng rằng họ sẽ làm được chuyện động trời, trong khi thể chế chính trị độc tài của họ lại không giải quyết được những bài toán sinh tử do thiên nhiên đặt ra, loại bài toán mà quốc gia nào cũng có thể gặp. Bây giờ, xuyên qua chuyện dân Tây Tạng tự thiêu, ta có thể thấy ra một số bài toán kinh tế rộng lớn hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước lân bang.

Vũ Hoàng: Và như thông lệ, ông sẽ lại bắt đầu bằng tấm bản đồ như ông thường ví von, để nói về địa dư.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa tấm bản đồ và cả cuốn lịch, để xác định không gian và thời gian!

- Trước hết, Tây Tạng là quốc gia độc lập, xưa kia từng là đế quốc hùng mạnh ngang ngửa Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ngay sau khi làm chủ Hoa lục, Mao Trạch Đông tấn công các tỉnh miền Đông của Tây Tạng vào năm 1950 rồi thôn tính luôn xứ này kể từ Tháng Ba năm 1959. Tây Tạng có diện tích rộng lớn bằng cả cõi Tây Âu và nằm trên đỉnh của Cao nguyên Tây Tạng bên rặng Hy Mã Lạp Sơn là nơi phát nguyên ra các con sông lớn nhất của Châu Á.

- Sau khi chiếm đóng, lãnh đạo Trung Quốc vẽ lại bản đồ Tây Tạng. Họ gọi phân nửa lãnh thổ xứ này là "Khu Tự trị Tây Tạng" - gồm tỉnh Ngari ở miền Tây và hai tỉnh U và Tsang ở trung bộ. Phần còn lại là hai tỉnh Amdo và Kham ở miền Đông thì bị sát nhập vào ba tỉnh lân cận là Thanh Hải, Cam Túc và Tứ Xuyên. Rồi họ nhập nhằng gọi chung tất cả là Cao nguyên Thanh Tạng.

- Không chỉ vẽ lại bản đồ, Bắc Kinh còn tiến hành chính sách cưỡng bách di dân theo hai hướng. Đó là đưa người Hán vào làm chủ khu vực Tây Tạng và thứ hai đưa dân Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ truyền thống của họ để sống trà trộn như người thiểu số tại các tỉnh lân cận.

- Khi theo dõi tin tức về các vụ tự thiêu của tăng ni và dân Tây Tạng nói chung, có lẽ là 34 người kể từ Tháng Ba năm ngoái, chưa nói đến nhiều người treo cổ tự ải trong tù, thì ta thấy ra sự lạ: đến 26 vụ tự thiêu để phản đối ách cai trị của Trung Quốc lại xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, sáu vụ ở Thanh Hải và một ở Cam Túc, duy nhất có một vụ ở trong Khu Tự trị. Có lẽ đấy là quy luật "gieo gió gặt bão" vì sự biến xảy ra trong khu vực sinh hoạt đa diện của nhiều sắc dân và dễ loan truyền mà lại khó khoanh vùng ém tin trong hang hốc hay tu viện hẻo lánh trên núi Tây Tạng.

- Một kết luận khác là chính sách di dân để pha loãng và triệt tiêu bản sắc Tây Tạng đã thất bại. Trong khi ấy, người Hán vào sinh sống trên đất Tây Tạng có khi lại thấy họ không được nâng đỡ và bất mãn ra mặt. Đó là bài toán phản ảnh những khó khăn của lãnh đạo Trung Quốc khi cần hội nhập các sắc dân thiểu số hoặc loại dị tộc thường xuyên bị khinh thị, đàn áp và lấn át.

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông về cách trình bày sự thể địa dư này. Nó cho thấy sự chuyển dịch trong phong trào phản kháng của dân Tây Tạng ngày một quyết liệt hơn ở bên ngoài Khu Tự trị và sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh khi bất ổn lại xảy ra nhiều nhất ở tỉnh Tứ Xuyên, vốn dĩ cũng là nơi có thành phố Trùng Khánh khá nổi tiếng vừa qua với vụ Bí thư Bạc Hy Lai bị cách chức và hạ bệ. Bây giờ, cũng với tấm bản đồ trong tay, người ta còn thấy ra những vấn đề gì khác của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta cứ nói đến phạm trù gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế vì những phân bố địa dư của Trung Quốc. Tôi xin điểm lại từ trong ra ngoài:

- Khu vực ngoại biên như Tây Tạng, Tân Cương hay Nội Mông, Mãn Châu là nơi mà yêu cầu an ninh gây rất nhiều tốn kém vì là vùng trái độn quân sự để bảo vệ cõi Trung Nguyên của Hán tộc. Đây là nơi ta đang thấy mầm loạn, từ Tân Cương qua Tây Tạng. Ở giữa có khu vực nội địa gồm các tỉnh bị khoá trong lục địa và có chung đặc tính là chẳng tiếp giáp với đại dương mà lại tiếp cận với các sa mạc thảo nguyên hiểm trở và nhất là rặng Hy Mã Lạp Sơn. Đây là nơi có 500 triệu dân sống rất nghèo khổ và cũng là nơi xuất phát mầm loạn hay "cách mạng" trong lịch sử. Sau cùng mới là đất Trung Nguyên của Hán tộc là các tỉnh duyên hải tương đối trù phú hơn ở miền Đông vì mở ra buôn bán với bên ngoài và cứ được thế giới trầm trồ ngợi khen.

- Thời Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Chu Dung Cơ, lãnh đạo đã phát động "Kế hoạch Tây Tiến" để mở mang các tỉnh lạc hậu bị khóa ở miền Tây mà không thành. Tháng Ba năm 2005, thế hệ lãnh đạo nối tiếp là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng lại lập ra kế hoạch gọi là "Quật khởi Trung Bộ" để phát triển sáu tỉnh bên trong là Sơn Tây, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây. Kế hoạch ấy cũng gặp trở ngại và sẽ là bài toán cho thế hệ nối tiếp.


Vũ Hoàng: Trong khi Tây Tạng có biến thì Trung Bộ vẫn chưa theo kịp các tỉnh duyên hải miền Đông, có phải là ông muốn nói như vậy không? Mà thưa ông, đâu là lý do của thất bại?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu kể thêm đất Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh thì ta hãy tưởng tượng ra một khu vực rộng lớn gần hai triệu cây số vuông của nửa tỷ người bị kẹt trong đất liền và khó thông thương với bên ngoài. Nhưng sự thể còn gian nan hơn vậy vì các tỉnh bên trong lại cũng khó thông thương với nhau!

- Trước hết và tương đối giàu nhất khu vực Trung Bộ này là mạn Bắc của sông Dương Tử, nơi có thành phố Trùng Khánh và tỉnh Hồ Bắc. Lãnh đạo Bắc Kinh muốn phát triển vùng này và trông cậy vào sông Dương Tử. Thứ nữa là hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây nằm ở phía Nam sông Dương Tử giữa Lòng chảo Tứ Xuyên và rặng núi Vũ Di, chung quanh ba mặt đều là núi, chỉ có một ngả thông thương là sông Dương Tử.

- Thứ ba là vùng Bình nguyên miền Bắc bao trùm lên từng phần của các tỉnh Hà Nam, An Huy, và Sơn Đông, Giang Tô lẫn cả Chiết Giang. Đây là trung tâm nông nghiệp mà cũng là một vựa lúa thiếu nước. Sau cùng, thứ tư là vùng đất từ hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây có ưu thế cung cấp than đá và khoáng sản cho hai thành phố duyên hải là Bắc Kinh và Thiên Tân. Mà than đá hay nguyên liệu là sản phẩm cũng cần tới năng lượng và nhất là cần nước.

- Bốn khu vực gọi là Trung Bộ không tiếp giáp với đại dương và là nơi mà chuyển vận khó khăn đòi hỏi kinh phí đầu tư rất cao. Khi Bắc Kinh theo đuổi chiến lược xuất khẩu bằng mọi giá thì các khu vực này bị tụt hậu. Bây giờ họ muốn cải thiện để phần nào san bằng dị biệt và bất công thì lại gặp vấn đề cơ bản là thiếu nước ngọt. Với sự chủ quan duy ý chí là quăng tiền vào đầu tư mà bất cần tới phí tổn, Trung Quốc vẫn gặp giới hạn của thiên nhiên và lại tiếp tục làm bậy!

Vũ Hoàng: Nhiều lần ông nhắc tới hiện tượng thiếu nước ngọt. Thưa ông, cái chuyện ấy là gì và nguy ngập đến cỡ nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc hiện đang kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng và một phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn là đỉnh cao nhất của địa cầu, nơi mà băng tuyết cũng mở ra sinh lộ cho các con sông lớn nhất Châu Á, trước tiên là Hoàng Hà và Dương Tử. Người ta gọi đó là "tháp nước" của địa cầu, nguồn sống cho một tỷ người Á Châu trong đó có 300 triệu dân Trung Quốc.

- Từ nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc đã lạm thác lâm sản dưới chân Hy Mã Lạp Sơn và gây lũ lụt cho hạ nguồn ở dưới. Thế rồi tiến trình gọi là công nghiệp hoá rất thiếu suy tính đã xâm phạm đỉnh trời và có thể là đẩy lui các tảng băng sơn trên đỉnh, bình quân một năm thì mất 7%. Nghĩa là làm giảm lượng nước cho ngần ấy con sông ở dưới Cao nguyên Tây Tạng. Nối tiếp là cả vạn dự án xây đập thủy điện để tìm năng lượng, làm biến đổi trật tự thiên nhiên và môi sinh của các con sông, kể cả sông Mekong của năm nước Đông Nam Á ở dưới.

- Nhưng chủ quan và ích kỷ đến độ tự sát, Trung Quốc còn muốn khơi dòng Dương Tử bằng nhiều con kinh nhân tạo để tiếp nước vào sông Hoàng Hà hầu tiêu tưới cho các tỉnh miền Bắc. Từ ngàn xưa, lãnh đạo xứ này đã cố dẫn nước từ miền Nam lên miền Bắc, Mao Trạch Đông đã mở ra kế hoạch gọi là "Nam Thủy Bắc Điều" và các thế hệ nổi tiếp tiếp tục thực hiện. Kết quả là những trái bom nổ chậm về môi sinh hay động đất nằm ngay tại Trung Bộ và tai họa chết người cho hầu hết các lân bang. Trung Quốc đang cướp nước trong nghĩa đen vì tước đoạt nguồn nước của thiên hạ. Chuyện Cửu Long cạn dòng ở nước ta mới chỉ là một phần thôi. Cho nên, từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á.

Vũ Hoàng: Từ chuyện dân Tây Tạng tự thiêu đến chuyện Á Châu thiếu nước, hình như ông vừa trình bày nhiều chuyện sinh tử qua tấm bản đồ và các kế hoạch chủ quan của Trung Quốc. Nhưng thưa ông, nguy cơ thiếu nước đó nó nghiêm trọng đến chừng nào mà vì sao người ta phải quan tâm?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung, Á Châu là nơi có các nền kinh tế đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Tiến trình phát triển thì có công nghiệp hoá và đô thị hóa với yêu cầu về nước ngọt sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Như Ấn Độ và Trung Quốc thì quy tụ 37% dân số địa cầu mà chỉ có 11% lượng nước ngọt của thế giới. Nếu tính cho cả Á Châu thì họ chỉ có tôi xin gọi là "khẩu phần nước ngọt" theo đầu người bằng phân nửa bình quân của thế giới. Tức là đang thiếu và sẽ còn thiếu nặng. Á Châu cũng là nơi có hiệu năng tiêu thụ và sản xuất kém nhất về nước ngọt, tức là gây lãng phí đến độ xài nước của các thế hệ sau này.

- Trong hoàn cảnh chung đã đen tối, Trung Quốc lại chỉ nghĩ đến mình nên vừa phá hủy nguồn nước trên đỉnh trời Tây Tạng khi lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn mà còn cưỡng đoạt nguồn nước của các lân bang, từ Pakistan qua Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, Miến Điện, Thái Lan đến ba nước Đông Dương. Ở bên trong, việc công nghiệp hoá bất kể đến môi sinh và an toàn sẽ gây họa cho chính người dân của họ với mấy vạn dự án xây đập nước và cả triệu trường hợp không xử lý phế vật thải ra từ nhà máy và cứ chảy thẳng ra sông và thấm xuống các mạch nước ngọt ở dưới.

Vũ Hoàng: Kết luận đó của ông quả là điều rất đáng quan tâm cho các nước Á Châu, nhất là cho một quốc gia sống nhờ sông Mekong và chuyên về lúa nước như Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi nói về địa dư hình thể và tài nguyên do thiên nhiên đem lại, ta có thể kết luận là Châu Á đã mở ra viễn ảnh ghê người là các quốc gia sẽ tranh chấp không chỉ để giành lấy đất đai hay dầu khí như các nước khác trong tiến trình công nghiệp hoá của thế kỷ 19 và 20. Qua thế kỷ 21, Á Châu dễ có xung đột để giành nguồn sống là nước ngọt. Động thái của Trung Quốc báo hiệu điều ấy, không chỉ ở ngoài Đông hải mà trên từ trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Người ta không nên thờ ơ với những gì xảy ra cho Tây Tạng vì đấy chỉ là mặt nổi của những tai họa còn ghê gớm hơn cho tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc từ Ấn Độ tới Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Reader's Comment
4/19/201217:00:35
Guest
Cám ơn Ông NX Nghĩa đã cho đọc một bài viết vô cùng hay. Rất khâm phục kiến thức rất rộng của ông. Hy vọng đươc tiếp tục đọc bài viết của ông.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.