Hôm nay,  

Thiếu Nước Thừa Lửa - Chuyện Tây Tạng

19/04/201200:00:00(Xem: 13468)
...từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á...

Trong khi thế giới bàng hoàng vì hàng loạt những vụ người Tây Tạng tự thiêu tại Trung Quốc, một cái nhìn kinh tế lại soi rọi nhiều vấn đề còn nghiêm trọng hơn từ quốc gia này. Đó là việc phát triển khu vực nội địa mà Bắc Kinh gọi là "Trung Bộ" của Trung Quốc, là nan đề không có giải pháp. Nguy kịch hơn thế còn có nạn lạm thác nguồn nước ngọt từ rặng Hy Mã Lạp Sơn khiến cả tỷ người dân, ngay tại Trung Quốc và trong các nước lân bang khác của Châu Á sẽ lâm vào cảnh thiếu nước. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những bài toán phức tạp này trong phần trao đổi sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á Châu Tự Do.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, khi theo dõi chương trình phân tích kinh tế của ông, dường như thính giả có thấy ra một lối nhìn là tập trung chú ý vào nền tảng dịa dư hình thể để giải thích một số chuyển động ngầm hầu có thể dự báo những xoay vần kinh tế trong dài hạn. Cách nhìn đó cũng khiến ông đã nhiều lần nhấn mạnh tới tình trạng bất ổn gần như bẩm sinh vì gắn liền với địa dư của Trung Quốc. Bây giờ, qua vụ người dân Tây Tạng đã tự thiêu hàng loạt trong hơn một năm vừa qua, ông nhìn thấy những gì để có thể chia sẻ với thính giả?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng khi mới lên cầm quyền, lãnh đạo xứ nào cũng có thể nghĩ là mình mở ra một vận hội mới có thể thay đổi bộ mặt thế giới hay tương lai của quốc gia. Sự thật thì họ vẫn bị gò bó bởi yếu tố khách quan nhất là địa dư hình thể của địa bàn sinh hoạt.

- Từ khi sáng lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc vào năm 1949, lãnh đạo Bắc Kinh chủ quan lầm tưởng rằng họ sẽ làm được chuyện động trời, trong khi thể chế chính trị độc tài của họ lại không giải quyết được những bài toán sinh tử do thiên nhiên đặt ra, loại bài toán mà quốc gia nào cũng có thể gặp. Bây giờ, xuyên qua chuyện dân Tây Tạng tự thiêu, ta có thể thấy ra một số bài toán kinh tế rộng lớn hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước lân bang.

Vũ Hoàng: Và như thông lệ, ông sẽ lại bắt đầu bằng tấm bản đồ như ông thường ví von, để nói về địa dư.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa tấm bản đồ và cả cuốn lịch, để xác định không gian và thời gian!

- Trước hết, Tây Tạng là quốc gia độc lập, xưa kia từng là đế quốc hùng mạnh ngang ngửa Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ngay sau khi làm chủ Hoa lục, Mao Trạch Đông tấn công các tỉnh miền Đông của Tây Tạng vào năm 1950 rồi thôn tính luôn xứ này kể từ Tháng Ba năm 1959. Tây Tạng có diện tích rộng lớn bằng cả cõi Tây Âu và nằm trên đỉnh của Cao nguyên Tây Tạng bên rặng Hy Mã Lạp Sơn là nơi phát nguyên ra các con sông lớn nhất của Châu Á.

- Sau khi chiếm đóng, lãnh đạo Trung Quốc vẽ lại bản đồ Tây Tạng. Họ gọi phân nửa lãnh thổ xứ này là "Khu Tự trị Tây Tạng" - gồm tỉnh Ngari ở miền Tây và hai tỉnh U và Tsang ở trung bộ. Phần còn lại là hai tỉnh Amdo và Kham ở miền Đông thì bị sát nhập vào ba tỉnh lân cận là Thanh Hải, Cam Túc và Tứ Xuyên. Rồi họ nhập nhằng gọi chung tất cả là Cao nguyên Thanh Tạng.

- Không chỉ vẽ lại bản đồ, Bắc Kinh còn tiến hành chính sách cưỡng bách di dân theo hai hướng. Đó là đưa người Hán vào làm chủ khu vực Tây Tạng và thứ hai đưa dân Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ truyền thống của họ để sống trà trộn như người thiểu số tại các tỉnh lân cận.

- Khi theo dõi tin tức về các vụ tự thiêu của tăng ni và dân Tây Tạng nói chung, có lẽ là 34 người kể từ Tháng Ba năm ngoái, chưa nói đến nhiều người treo cổ tự ải trong tù, thì ta thấy ra sự lạ: đến 26 vụ tự thiêu để phản đối ách cai trị của Trung Quốc lại xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, sáu vụ ở Thanh Hải và một ở Cam Túc, duy nhất có một vụ ở trong Khu Tự trị. Có lẽ đấy là quy luật "gieo gió gặt bão" vì sự biến xảy ra trong khu vực sinh hoạt đa diện của nhiều sắc dân và dễ loan truyền mà lại khó khoanh vùng ém tin trong hang hốc hay tu viện hẻo lánh trên núi Tây Tạng.

- Một kết luận khác là chính sách di dân để pha loãng và triệt tiêu bản sắc Tây Tạng đã thất bại. Trong khi ấy, người Hán vào sinh sống trên đất Tây Tạng có khi lại thấy họ không được nâng đỡ và bất mãn ra mặt. Đó là bài toán phản ảnh những khó khăn của lãnh đạo Trung Quốc khi cần hội nhập các sắc dân thiểu số hoặc loại dị tộc thường xuyên bị khinh thị, đàn áp và lấn át.

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông về cách trình bày sự thể địa dư này. Nó cho thấy sự chuyển dịch trong phong trào phản kháng của dân Tây Tạng ngày một quyết liệt hơn ở bên ngoài Khu Tự trị và sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh khi bất ổn lại xảy ra nhiều nhất ở tỉnh Tứ Xuyên, vốn dĩ cũng là nơi có thành phố Trùng Khánh khá nổi tiếng vừa qua với vụ Bí thư Bạc Hy Lai bị cách chức và hạ bệ. Bây giờ, cũng với tấm bản đồ trong tay, người ta còn thấy ra những vấn đề gì khác của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta cứ nói đến phạm trù gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế vì những phân bố địa dư của Trung Quốc. Tôi xin điểm lại từ trong ra ngoài:

- Khu vực ngoại biên như Tây Tạng, Tân Cương hay Nội Mông, Mãn Châu là nơi mà yêu cầu an ninh gây rất nhiều tốn kém vì là vùng trái độn quân sự để bảo vệ cõi Trung Nguyên của Hán tộc. Đây là nơi ta đang thấy mầm loạn, từ Tân Cương qua Tây Tạng. Ở giữa có khu vực nội địa gồm các tỉnh bị khoá trong lục địa và có chung đặc tính là chẳng tiếp giáp với đại dương mà lại tiếp cận với các sa mạc thảo nguyên hiểm trở và nhất là rặng Hy Mã Lạp Sơn. Đây là nơi có 500 triệu dân sống rất nghèo khổ và cũng là nơi xuất phát mầm loạn hay "cách mạng" trong lịch sử. Sau cùng mới là đất Trung Nguyên của Hán tộc là các tỉnh duyên hải tương đối trù phú hơn ở miền Đông vì mở ra buôn bán với bên ngoài và cứ được thế giới trầm trồ ngợi khen.

- Thời Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Chu Dung Cơ, lãnh đạo đã phát động "Kế hoạch Tây Tiến" để mở mang các tỉnh lạc hậu bị khóa ở miền Tây mà không thành. Tháng Ba năm 2005, thế hệ lãnh đạo nối tiếp là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng lại lập ra kế hoạch gọi là "Quật khởi Trung Bộ" để phát triển sáu tỉnh bên trong là Sơn Tây, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây. Kế hoạch ấy cũng gặp trở ngại và sẽ là bài toán cho thế hệ nối tiếp.


Vũ Hoàng: Trong khi Tây Tạng có biến thì Trung Bộ vẫn chưa theo kịp các tỉnh duyên hải miền Đông, có phải là ông muốn nói như vậy không? Mà thưa ông, đâu là lý do của thất bại?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu kể thêm đất Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh thì ta hãy tưởng tượng ra một khu vực rộng lớn gần hai triệu cây số vuông của nửa tỷ người bị kẹt trong đất liền và khó thông thương với bên ngoài. Nhưng sự thể còn gian nan hơn vậy vì các tỉnh bên trong lại cũng khó thông thương với nhau!

- Trước hết và tương đối giàu nhất khu vực Trung Bộ này là mạn Bắc của sông Dương Tử, nơi có thành phố Trùng Khánh và tỉnh Hồ Bắc. Lãnh đạo Bắc Kinh muốn phát triển vùng này và trông cậy vào sông Dương Tử. Thứ nữa là hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây nằm ở phía Nam sông Dương Tử giữa Lòng chảo Tứ Xuyên và rặng núi Vũ Di, chung quanh ba mặt đều là núi, chỉ có một ngả thông thương là sông Dương Tử.

- Thứ ba là vùng Bình nguyên miền Bắc bao trùm lên từng phần của các tỉnh Hà Nam, An Huy, và Sơn Đông, Giang Tô lẫn cả Chiết Giang. Đây là trung tâm nông nghiệp mà cũng là một vựa lúa thiếu nước. Sau cùng, thứ tư là vùng đất từ hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây có ưu thế cung cấp than đá và khoáng sản cho hai thành phố duyên hải là Bắc Kinh và Thiên Tân. Mà than đá hay nguyên liệu là sản phẩm cũng cần tới năng lượng và nhất là cần nước.

- Bốn khu vực gọi là Trung Bộ không tiếp giáp với đại dương và là nơi mà chuyển vận khó khăn đòi hỏi kinh phí đầu tư rất cao. Khi Bắc Kinh theo đuổi chiến lược xuất khẩu bằng mọi giá thì các khu vực này bị tụt hậu. Bây giờ họ muốn cải thiện để phần nào san bằng dị biệt và bất công thì lại gặp vấn đề cơ bản là thiếu nước ngọt. Với sự chủ quan duy ý chí là quăng tiền vào đầu tư mà bất cần tới phí tổn, Trung Quốc vẫn gặp giới hạn của thiên nhiên và lại tiếp tục làm bậy!

Vũ Hoàng: Nhiều lần ông nhắc tới hiện tượng thiếu nước ngọt. Thưa ông, cái chuyện ấy là gì và nguy ngập đến cỡ nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc hiện đang kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng và một phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn là đỉnh cao nhất của địa cầu, nơi mà băng tuyết cũng mở ra sinh lộ cho các con sông lớn nhất Châu Á, trước tiên là Hoàng Hà và Dương Tử. Người ta gọi đó là "tháp nước" của địa cầu, nguồn sống cho một tỷ người Á Châu trong đó có 300 triệu dân Trung Quốc.

- Từ nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc đã lạm thác lâm sản dưới chân Hy Mã Lạp Sơn và gây lũ lụt cho hạ nguồn ở dưới. Thế rồi tiến trình gọi là công nghiệp hoá rất thiếu suy tính đã xâm phạm đỉnh trời và có thể là đẩy lui các tảng băng sơn trên đỉnh, bình quân một năm thì mất 7%. Nghĩa là làm giảm lượng nước cho ngần ấy con sông ở dưới Cao nguyên Tây Tạng. Nối tiếp là cả vạn dự án xây đập thủy điện để tìm năng lượng, làm biến đổi trật tự thiên nhiên và môi sinh của các con sông, kể cả sông Mekong của năm nước Đông Nam Á ở dưới.

- Nhưng chủ quan và ích kỷ đến độ tự sát, Trung Quốc còn muốn khơi dòng Dương Tử bằng nhiều con kinh nhân tạo để tiếp nước vào sông Hoàng Hà hầu tiêu tưới cho các tỉnh miền Bắc. Từ ngàn xưa, lãnh đạo xứ này đã cố dẫn nước từ miền Nam lên miền Bắc, Mao Trạch Đông đã mở ra kế hoạch gọi là "Nam Thủy Bắc Điều" và các thế hệ nổi tiếp tiếp tục thực hiện. Kết quả là những trái bom nổ chậm về môi sinh hay động đất nằm ngay tại Trung Bộ và tai họa chết người cho hầu hết các lân bang. Trung Quốc đang cướp nước trong nghĩa đen vì tước đoạt nguồn nước của thiên hạ. Chuyện Cửu Long cạn dòng ở nước ta mới chỉ là một phần thôi. Cho nên, từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á.

Vũ Hoàng: Từ chuyện dân Tây Tạng tự thiêu đến chuyện Á Châu thiếu nước, hình như ông vừa trình bày nhiều chuyện sinh tử qua tấm bản đồ và các kế hoạch chủ quan của Trung Quốc. Nhưng thưa ông, nguy cơ thiếu nước đó nó nghiêm trọng đến chừng nào mà vì sao người ta phải quan tâm?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung, Á Châu là nơi có các nền kinh tế đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Tiến trình phát triển thì có công nghiệp hoá và đô thị hóa với yêu cầu về nước ngọt sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Như Ấn Độ và Trung Quốc thì quy tụ 37% dân số địa cầu mà chỉ có 11% lượng nước ngọt của thế giới. Nếu tính cho cả Á Châu thì họ chỉ có tôi xin gọi là "khẩu phần nước ngọt" theo đầu người bằng phân nửa bình quân của thế giới. Tức là đang thiếu và sẽ còn thiếu nặng. Á Châu cũng là nơi có hiệu năng tiêu thụ và sản xuất kém nhất về nước ngọt, tức là gây lãng phí đến độ xài nước của các thế hệ sau này.

- Trong hoàn cảnh chung đã đen tối, Trung Quốc lại chỉ nghĩ đến mình nên vừa phá hủy nguồn nước trên đỉnh trời Tây Tạng khi lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn mà còn cưỡng đoạt nguồn nước của các lân bang, từ Pakistan qua Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, Miến Điện, Thái Lan đến ba nước Đông Dương. Ở bên trong, việc công nghiệp hoá bất kể đến môi sinh và an toàn sẽ gây họa cho chính người dân của họ với mấy vạn dự án xây đập nước và cả triệu trường hợp không xử lý phế vật thải ra từ nhà máy và cứ chảy thẳng ra sông và thấm xuống các mạch nước ngọt ở dưới.

Vũ Hoàng: Kết luận đó của ông quả là điều rất đáng quan tâm cho các nước Á Châu, nhất là cho một quốc gia sống nhờ sông Mekong và chuyên về lúa nước như Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi nói về địa dư hình thể và tài nguyên do thiên nhiên đem lại, ta có thể kết luận là Châu Á đã mở ra viễn ảnh ghê người là các quốc gia sẽ tranh chấp không chỉ để giành lấy đất đai hay dầu khí như các nước khác trong tiến trình công nghiệp hoá của thế kỷ 19 và 20. Qua thế kỷ 21, Á Châu dễ có xung đột để giành nguồn sống là nước ngọt. Động thái của Trung Quốc báo hiệu điều ấy, không chỉ ở ngoài Đông hải mà trên từ trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Người ta không nên thờ ơ với những gì xảy ra cho Tây Tạng vì đấy chỉ là mặt nổi của những tai họa còn ghê gớm hơn cho tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc từ Ấn Độ tới Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Ý kiến bạn đọc
19/04/201217:00:35
Khách
Cám ơn Ông NX Nghĩa đã cho đọc một bài viết vô cùng hay. Rất khâm phục kiến thức rất rộng của ông. Hy vọng đươc tiếp tục đọc bài viết của ông.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.