Hôm nay,  

Tình Cha, Tình Con

24/04/201200:00:00(Xem: 10371)
Ba tuần liên tiếp vừa qua, Cỏ May nói chuyện về các Bà ở Pháp. Mà chuyện các Bà ở Pháp chắc không xảy ra ở các nơi khác vì Pháp thường tự hào có một nền văn hóa lâu đời mang sắc thái riêng của Pháp. Thứ văn hóa đặc thù về phụ nữ của Pháp.

Nay cỏ May nói thêm một lần nữa về các Bà đầm ở Pháp. Mà không phải chuyện riêng của các Bà đầm với nhau. Chuyện các Bà đầm với các Ông Cha, tức các Linh mục. Chuyện tình yêu!

Chuyện sẽ lần lượt được kể ra đây không phải do Cỏ May tự đi mở cuộc điều tra vì một hậu ý bôi bác các nhà tu hành hay nhằm phổ quát hóa một vài trường hợp cá biệc, mà Cỏ May chỉ thu lượm kết quả điều tra được phổ biến trên báo chí Pháp, trên TV Pháp bằng các cuộc thảo luận sôi nổi.

Thầy Chùa ở khắp nơi, từ lâu nay, liên lụy đàn bà đã trở thành phổ thông. Có trường hợp Thầy Chùa xâm phạm tiết hạnh phụ nữ bị đưa ra Tòa án và bị phạt tù và cả tiền hằng triệu đô-la. Thầy Chùa vi phạm giới luật của kẻ xuất gia vì vụng trộm liên hệ phụ nữ. Tương tự với Linh mục. Chẳng những vi phạm giới luật tôn giáo mà cả luật pháp xã hội về hình sự. Cũng chỉ vì cả hai đều là con người thế gian. Những con người không giữ mình theo đạo đức được.

Nhưng chuyện của Cỏ May hôm nay không phải những chuyện vi phạm giới luật tôn giáo hay vi phạm pháp luật xã hội mà là chuyện tình của các Bà với Linh mục. Cả hai đều yêu nhau tha thiết. Cái trở ngại mà họ gặp phải, không vượt qua được, là Giáo hội Vatican vẫn ngăn cấm Linh mục lấy vợ, tức phải giữ độc thân, đã làm cho nhiều người phải âm thầm đau khổ và nhiều khi phải xa nhau.

Công bố những mối tình éo le, âm thầm kéo dài, tang vở trong đau thương hoặc công khai hợp thức hóa, đều nhằm chung một mục tiêu là phản đối giáo hội bảo thủ quá lỗi thời, trong lúc tội ấu dâm lại cố tình bao che suốt thời gian dài đã làm mất uy tín lạnh đạo của giáo hội.

Đức Thánh Cha bị thưa về tội chống nhơn loại 

Trong gần đây, Đài TV công cộng của Đức ZDF công khai phê phán «Uy tín của Giáo hội Vatican bị tổn thương nghiêm trọng» vì bị một số lớn tín đồ chống đối các vị Linh mục vi phạm tội ấu dâm suốt thời gian dài mà không bị Giáo hội và Đức Thánh Cha xử lý.

Ông Wolfgang Thierse, Phó chủ tịch Quốc Hội Đức,với tư cách thành viên của Ủy Ban công giáo Đức, Đại diện cho quyền lợi công giáo trong xã hội, cũng lên tiếng phản đối giáo quyền ở Vatican. Nhiều giáo dân ở Đức yêu cầu đưa vấn đề Linh mục phải giữ «độc thân» ra thảo luận.

Trên TV Pháp trong một chương trình thảo luận về tính «độc thân» bắt buộc của Linh mục, một vị Linh mục trả lời câu hỏi của nhà báo, khẳng định «Linh mục chỉ bị bắt buộc giữ độc thân, tức không lấy vợ, chớ luật Giáo hội không bắt buộc Linh mục phải giữ trinh tiết (Vị Linh mục dùng chữ la Chasteté = sự trinh tiết), tức không quan hệ tình dục».

Dân chúng giáo dân Đức và Ủy Ban Công giáo Đức muốn Giáo hội phải lương thiện hơn và nghiêm minh hơn với chính mình và cả với Đức Thánh Cha vì năm 1980, đã cho một vị Giám mục phạm tội ấu dâm tỵ nạn khi ông này điều khiển Giáo phận ở Munichen. Ông Wolfgang Thierse bày tỏ ý kiến rằng Giáo hội cần phải làm sáng tỏ vụ này cho nạn nhơn và đền bù thiệt hại cho nạn nhơn cả bằng tiền bạc.

Vì sự im lặng của Giáo hội trong vừa qua kéo dài quá lâu trước những phản ứng của dư luận giáo dân, Hội các nạn nhơn ấu dâm của Linh mục đã nộp đơn thưa Đức Thánh Cha Benoit XVI và nhũng chức sắc của Vatican ở Tòa án Hình sự Quốc tế La Haye về tội chống nhơn loại. Nguyên đơn tố cáo Giáo hội Vatican nhắm mắt về những tội ấu dâm trên khắp thế giới. Theo Hội nạn nhơn, hồ sơ thưa dày 10000 trang với chứng từ về ấu dâm và yêu cầu xét xử Đức Thánh Cha về trách nhiệm trực tiếp của Ông với tư cách người lãnh đạo tối cao Giáo hội.

Khi vụ việc bùng nổ, Đức Thánh Cha Benoit XVI tuyên bố «lấy làm xấu hổ và có lời xin lỗi». Ngài kêu gọi tất cả Giám mục phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với giáo phận của mình về mặt hình sự.

Vì có đơn thưa, người ta lo ngại Đức Thánh Cha sẽ có thể phải giải thích nội vụ trước công lý?

Những mối tình với Cha và của Cha

Nhiều bà yêu Linh mục không cần biết đó là mối tình éo le sẽ không tránh khỏi dẩn đến đau khổ. Âm thầm, họ yêu và sống đau khổ với người bạn tình bị dày xéo giữa lời hứa giữ «độc thân» và sự say đắm người phụ nữ. Trên tuần báo Người Quan sát Mới (Le Nouvel Observateur) số phát hành ngày 2/11/2011 ở Paris, Bà Elisa Mignot đã cho phổ biến kết quả điều tra thu thập được khá nhiều từ những phụ nữ yêu Linh mục, có khi đó là những bà mẹ của những đứa con sanh ra từ mối tình với Linh mục. Giáo hội Vatican là nguyên nhơn của đau khổ và đỗ vỡ.

Hai người vào tuổi đôi mươi. Họ gặp nhau và yêu nhau trong lúc chàng là một chủng sinh và nàng là sinh viên Đại học, tích cực hoạt động cho giáo xứ. Không biết phải vì mối tình thầm kín này bị phát hiện mà chàng bị đổi đi từ thành phố Poitou qua thành phố Bordeaux để tiếp tục tu học trở thành Linh mục? Từ đây, Angelina không còn gặp lại người yêu của mình nữa. Mải đến gần đây, Angelina mới có dịp liên lạc lại với người yêu. Ba mươi năm trôi qua. Nhưng hai người vẫn còn bị cú sét ái tình cũ, của thời tuổi hai mươi. Từ đó, họ gặp nhau mỗi tháng một lần tại nhà xứ và hằng ngày, họ điện thoại nhau vào 11 giờ đêm, là lúc Cha rảnh sau một ngày chăm sóc cho mười họ đạo ở nhà quê. Ở nhà Cha, bà phải trốn tránh láng giềng, tránh đứng gần cửa sổ. Bà còn lấy số xe theo địa phương để giữ được bí mật an toàn. Bà giải thích «Cũng giống như tất cả những linh mục khác, ông rất sợ! Sợ giám mục biết được, sợ đồng nghiệp biết được, sợ bị hoen ố, sợ mất qui chế Linh mục, và nhứt là sợ làm mất cái tập thể của mình đang xây dựng». Angela vô cùng đau khổ. Mối tình thời tuổi trẻ, một chuyện tình đẹp như bài thơ tình, đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt. Sau mỗi cuối tuần sống chung với nhau, cứ tối đến, bà đi chơi để vơi đi đau khổ. Chàng đi bộ hằng nhiều cây số để giải tỏa mặc cảm tội lỗi. Những phụ nữ trong trường hợp Angela, hiếm người chịu giải bày tâm sự. Họ giữ im lặng vì sợ thân nhơn biết được chuyện của mình, sợ hơn nữa là người bạn tình của mình bị nguy hiểm vì cơ chế giáo hội nơi họ đã tuyên thệ tuyệt đối vâng lời. Trong số 15 000 Linh mục ở Pháp, có ít nhứt 15% có người yêu. Giáo hội xem đó là những trường hợp cá biệt và từ chối cứu xét tổng quát về sự độc thân bắt buộc. Nhưng hiện tượng xã hội này lại tiêu biểu cho một thứ phức tạp bất ổn cho một bộ phận nhân sự già nua vì tuổi trung bình của Linh mục là 70 tuổi. Nghề Linh mục đang bị khủng hoảng trầm trọng. Năm 2009, chỉ có 89 người thụ phong Linh mục. Trước đó, năm 1970, còn có được 300 người nhận chức Linh mục. Ngoài sự khủng hoảng Linh mục còn có thêm sự khủng hoảng niềm tin trong dân chúng do những vụ ấu dâm phổ biến mà Giáo hội không xử lý kịp thời, trái lại còn có thái độ như muốn bao che tội phạm. Linh mục phải giữ độc thân nay đã trở thành lỗi thời vì đó là dấu hiệu cho thấy Giáo hội không kịp thích nghi với đời sống xã hội không ngừng diển tiến. Nhưng lập trường của Đức Thánh Cha trong vấn đề này vẫn không thay đổi tuy sự độc thân bắt buộc cho Linh mục được thiết lập hồi thế kỷ XI nay vẫn còn giá trị như điều kiện không có không được cho nhiệm vụ linh mục.


Một trường hợp ngang trái khác. Alexandra đã phải xa người bạn tình Linh mục bà gặp nhơn một buổi lễ của một làng nhỏ. Alexandra là nhơn viên hành chánh Thị xã, hoàn toàn «vô thần», thôi chồng với 2 con, bổng bị cú xét ái tình ở tuổi 43 với vị Linh mục vừa xem bà như người yêu, vừa là người phụ nữ quyến rũ. Ông thích được bà chờ đợi tại nhà xứ nhưng khi hai thân thể sáp lại gần nhau thì ông lại vội xô bà ra vì cảm thấy «mình chiếm được trọn vẹn» người yêu. Bà nhớ lại ông ấy lo sợ vì yêu bà mà ông không dành được trọn thì giờ cho giáo dân. Ông muốn biến tình yêu thành tình bạn, điều thật khôi hài, thế mà ông vẫn có thể tiếp tục thuyết giảng cho người yêu. Phải chăng vì trước kia ông là giáo sư của chủng viện giảng dạy về tâm lý tình dục và tình yêu vợ chồng cho những Linh mục tương lai mà ngày nay ông còn bị méo mó nghề nghiệp?

Một Linh mục 69 tuổi, vẫn giữ áo thụng đen, yêu một phụ nữ từ hơn mười năm nay. Ông cảm thấy ông tiến theo đà chuyển biến của xã hội. Từ khi ông yêu Eliane, ông cảm thấy ông làm việc đắc lực hơn. Eliane là một phụ nữ xa chồng nhưng chưa ly dị, có 4 con. Yêu là ông chọn cho mình một lập trường cực đoan trong cuộc sống. Nhưng ông không ngại. Trái lại, nhờ yêu, tuy ở tuổi 69, tinh thần của ông được mở mang rộng rải ra. Ông không hề cảm thấy mình bị phạm tội. Ông giải thích «Sự độc thân dành cho những tu sĩ hiến trọn mình cho Chúa. Nhưng tôi, điều đó không phải là thiên chức của tôi. Tôi cần Eliane. Tôi sanh ra không phải để sống cô đơn một mình».

Những cặp yêu nhau này rất hạnh phúc, nhưng phải giữ kín với mọi người. Họ chưa đủ thì giờ để tham gia tranh đấu hủy bỏ sự độc thân bắt buộc đối với Linh mục. Theo họ, độc thân hay yêu nhau thành lứa đôi là sự chọn lựa của mỗi người. Luât độc thân có thể có giá trị lúc đó, nhưng ngày nay hết còn giá trị. Đời sống tình dục là lẽ sống thiết yếu, sanh tử của mọi người. Không biết tình dục là dấu hiệu chưa trưởng thành. Mà chưa trưởng thành làm sao hướng dẩn được con chiên ? Nên người ta không ngạc nhiên khi bắt gặp nhiều Linh mục tìm giải khuây trong rượu hay mất thăng bằng tâm lý. Ngày nay, luật độc thân là một thứ xa xí phẩm làm giảm nghiêm trọng số chủng sinh, hậu quả hiển nhiên là tình trạng Linh mục già nua không được thay thế vì nạn khan hiếm Linh mục trẻ.

Một vị Linh mục trẻ thú nhận thẳng với vị Giám mục mối tình của ông, được vị Giám mục khuyên «Hãy cẩn thận đừng để chuyện này trở thành một trào lưu». Một sự mặc cả!

Linh mục Guy đã phải buộc miệng «Chúng ta đang sống thời lưỡi gổ (langue de buis. Buis là thứ gổ cứng như đá) ngự trị».

Bao giờ luật «độc thân» được tháo gỡ cho Linh mục?

Đức Thánh Cha trong quyển sách của Ngài «Ánh sáng của thế giới» (Lumières du monde) do nhà Bayard ấn hành gần đây, xác định lập trường của Ngài về quan hệ của Linh mục với phụ nữ «Chuyện đó không nên có …». Nơi nào thấy một Linh mục sống với một phụ nữ, hãy xem xét phải chăng thật sự có một ý muốn kết hôn … Nếu đúng như vậy, họ nên tiếp tục con đường của họ đã chọn. Nếu đó chỉ là một sự lệch lạc đạo đức, chúng ta nên tìm cách cứu giúp họ thoát khỏi sa ngã vào tội lỗi...»

Bà Dominique Venturini, 85 tuổi, Hội trưởng Hội «Giữa Ban Ngày», đưa mắt nhìn lên Trời vừa than «Các ông Linh mục đều bị điều kiện hóa hết cả». Bà dành thì giờ giúp đở những phụ nữ tình nhơn của Linh mục và tranh đấu cho luật độc thân phải được hủy bỏ cho các Linh mục. Hằng ngày, bà nhận được thư, e-mails, điện thoại yêu cầu bà giúp đở. Theo công giáo suốt 18 năm, nay bà lên án Giáo hội Vatican «là một định chế ngoan cố, độc đoán, thoái hóa, giết chết nhơn phẩm con người.” Bà cũng đã từng yêu một Linh mục suốt thời gian dài, trong âm thầm, trước khi trở thành người tranh đấu kiên cường sau cái chết của Jean-Marie, Linh mục, người yêu của bà. Mặc dầu là người phản kháng, bà chưa bao giờ bộc bạch chuyện tình yêu Linh mục của bà. Bà bị khóa miệng. “Điều này đã làm mất đi một phần của đời sống phụ nữ, đời sống xã hội của bà và mất quyền sanh đẻ của bà». Nhưng khi kiểm điểm lại, bà không thấy tiếc rẻ điều gì hết. Bà cho rằng «Có được tình yêu tuy không trọn vẹn vẫn còn hơn không có tình yêu. Nhưng tôi đã có được một tình yêu thật sự. Tuy không bỏ nhiêm vụ linh mục, Jean-Marie vẫn công kích định chế Giáo hội và giữ khoảng cách với Giáo hội khi cần».

Theo kết quả điều tra của TNS Sofres thực hiện hồi tháng 6/2009 theo yêu cầu của nhựt báo công giáo Pháp, La Croix, dân Pháp có 83% tỏ ra rất hoan nghênh Linh mục có vợ con bình thường, chỉ có 9% phản đối vì muốn Linh mục phải độc thân. Có 82% dân Pháp đồng ý Linh mục cưới vợ, 8% phản đối. Về quan niệm phụ nữ làm Linh mục, dân chúng Pháp có 80% đồng ý, chỉ có 11% không chịu.

Những cặp yêu nhau đều phải giữ bí mật vì Giáo hội gìn giữ Linh mục phục vụ Đức Chúa Trời. Nhưng không phải với giá nào cũng được. Linh mục Léon Laclau yêu Marga, y tá, và sống với nàng từ hai mươi năm nay. Giáo dân trong Giáo xứ đều biết. Một hôm, ông bị Giám mục gọi lên nhận lãnh sứ mạng mới đi qua Phi châu. Ông từ chối : «Đức Chúa Trời ở trên những cấm đoán của định chế. Tôi không có vấn đề với Ngài. Điều khủng khiếp đều do Giáo hội».

Linh mục Léon Laclau rời Giáo hội, tới Thị xã chánh thức kết hôn với người yêu Marga. Ông vẫn sống tại địa phương, có việc làm và sống bình thường với người yêu.

Ở thế kỷ thứ IV, Giáo hội không coi vấn đề tình dục là quan trọng. Các Giám mục được yêu cầu không nên có vợ. Tiếp theo, các Linh mục không được quan hệ tình dục 24 tiếng trước khi cử hành thánh lễ. Tới thế kỷ XI, Giáo hội cấm các Linh mục lấy vợ để ngăn ngừa lấy tài sản của Giáo xứ và nhà thờ để lại cho con cái thừa hưởng. Tuy nhiên, cho tới năm 1450, Linh mục ở khắp nơi phần đông đều có vợ nên một Linh mục ở Loire-Atlantique ngày nay, sau khi bị tố cáo âm thấm có bồ, lấy làm tiếc cho rằng Giáo hội Vatican bị trể cả mưới thế kỷ trong vấn đề này.

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.