Hôm nay,  

Tình Cha, Tình Con

24/04/201200:00:00(Xem: 10401)
Ba tuần liên tiếp vừa qua, Cỏ May nói chuyện về các Bà ở Pháp. Mà chuyện các Bà ở Pháp chắc không xảy ra ở các nơi khác vì Pháp thường tự hào có một nền văn hóa lâu đời mang sắc thái riêng của Pháp. Thứ văn hóa đặc thù về phụ nữ của Pháp.

Nay cỏ May nói thêm một lần nữa về các Bà đầm ở Pháp. Mà không phải chuyện riêng của các Bà đầm với nhau. Chuyện các Bà đầm với các Ông Cha, tức các Linh mục. Chuyện tình yêu!

Chuyện sẽ lần lượt được kể ra đây không phải do Cỏ May tự đi mở cuộc điều tra vì một hậu ý bôi bác các nhà tu hành hay nhằm phổ quát hóa một vài trường hợp cá biệc, mà Cỏ May chỉ thu lượm kết quả điều tra được phổ biến trên báo chí Pháp, trên TV Pháp bằng các cuộc thảo luận sôi nổi.

Thầy Chùa ở khắp nơi, từ lâu nay, liên lụy đàn bà đã trở thành phổ thông. Có trường hợp Thầy Chùa xâm phạm tiết hạnh phụ nữ bị đưa ra Tòa án và bị phạt tù và cả tiền hằng triệu đô-la. Thầy Chùa vi phạm giới luật của kẻ xuất gia vì vụng trộm liên hệ phụ nữ. Tương tự với Linh mục. Chẳng những vi phạm giới luật tôn giáo mà cả luật pháp xã hội về hình sự. Cũng chỉ vì cả hai đều là con người thế gian. Những con người không giữ mình theo đạo đức được.

Nhưng chuyện của Cỏ May hôm nay không phải những chuyện vi phạm giới luật tôn giáo hay vi phạm pháp luật xã hội mà là chuyện tình của các Bà với Linh mục. Cả hai đều yêu nhau tha thiết. Cái trở ngại mà họ gặp phải, không vượt qua được, là Giáo hội Vatican vẫn ngăn cấm Linh mục lấy vợ, tức phải giữ độc thân, đã làm cho nhiều người phải âm thầm đau khổ và nhiều khi phải xa nhau.

Công bố những mối tình éo le, âm thầm kéo dài, tang vở trong đau thương hoặc công khai hợp thức hóa, đều nhằm chung một mục tiêu là phản đối giáo hội bảo thủ quá lỗi thời, trong lúc tội ấu dâm lại cố tình bao che suốt thời gian dài đã làm mất uy tín lạnh đạo của giáo hội.

Đức Thánh Cha bị thưa về tội chống nhơn loại 

Trong gần đây, Đài TV công cộng của Đức ZDF công khai phê phán «Uy tín của Giáo hội Vatican bị tổn thương nghiêm trọng» vì bị một số lớn tín đồ chống đối các vị Linh mục vi phạm tội ấu dâm suốt thời gian dài mà không bị Giáo hội và Đức Thánh Cha xử lý.

Ông Wolfgang Thierse, Phó chủ tịch Quốc Hội Đức,với tư cách thành viên của Ủy Ban công giáo Đức, Đại diện cho quyền lợi công giáo trong xã hội, cũng lên tiếng phản đối giáo quyền ở Vatican. Nhiều giáo dân ở Đức yêu cầu đưa vấn đề Linh mục phải giữ «độc thân» ra thảo luận.

Trên TV Pháp trong một chương trình thảo luận về tính «độc thân» bắt buộc của Linh mục, một vị Linh mục trả lời câu hỏi của nhà báo, khẳng định «Linh mục chỉ bị bắt buộc giữ độc thân, tức không lấy vợ, chớ luật Giáo hội không bắt buộc Linh mục phải giữ trinh tiết (Vị Linh mục dùng chữ la Chasteté = sự trinh tiết), tức không quan hệ tình dục».

Dân chúng giáo dân Đức và Ủy Ban Công giáo Đức muốn Giáo hội phải lương thiện hơn và nghiêm minh hơn với chính mình và cả với Đức Thánh Cha vì năm 1980, đã cho một vị Giám mục phạm tội ấu dâm tỵ nạn khi ông này điều khiển Giáo phận ở Munichen. Ông Wolfgang Thierse bày tỏ ý kiến rằng Giáo hội cần phải làm sáng tỏ vụ này cho nạn nhơn và đền bù thiệt hại cho nạn nhơn cả bằng tiền bạc.

Vì sự im lặng của Giáo hội trong vừa qua kéo dài quá lâu trước những phản ứng của dư luận giáo dân, Hội các nạn nhơn ấu dâm của Linh mục đã nộp đơn thưa Đức Thánh Cha Benoit XVI và nhũng chức sắc của Vatican ở Tòa án Hình sự Quốc tế La Haye về tội chống nhơn loại. Nguyên đơn tố cáo Giáo hội Vatican nhắm mắt về những tội ấu dâm trên khắp thế giới. Theo Hội nạn nhơn, hồ sơ thưa dày 10000 trang với chứng từ về ấu dâm và yêu cầu xét xử Đức Thánh Cha về trách nhiệm trực tiếp của Ông với tư cách người lãnh đạo tối cao Giáo hội.

Khi vụ việc bùng nổ, Đức Thánh Cha Benoit XVI tuyên bố «lấy làm xấu hổ và có lời xin lỗi». Ngài kêu gọi tất cả Giám mục phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với giáo phận của mình về mặt hình sự.

Vì có đơn thưa, người ta lo ngại Đức Thánh Cha sẽ có thể phải giải thích nội vụ trước công lý?

Những mối tình với Cha và của Cha

Nhiều bà yêu Linh mục không cần biết đó là mối tình éo le sẽ không tránh khỏi dẩn đến đau khổ. Âm thầm, họ yêu và sống đau khổ với người bạn tình bị dày xéo giữa lời hứa giữ «độc thân» và sự say đắm người phụ nữ. Trên tuần báo Người Quan sát Mới (Le Nouvel Observateur) số phát hành ngày 2/11/2011 ở Paris, Bà Elisa Mignot đã cho phổ biến kết quả điều tra thu thập được khá nhiều từ những phụ nữ yêu Linh mục, có khi đó là những bà mẹ của những đứa con sanh ra từ mối tình với Linh mục. Giáo hội Vatican là nguyên nhơn của đau khổ và đỗ vỡ.

Hai người vào tuổi đôi mươi. Họ gặp nhau và yêu nhau trong lúc chàng là một chủng sinh và nàng là sinh viên Đại học, tích cực hoạt động cho giáo xứ. Không biết phải vì mối tình thầm kín này bị phát hiện mà chàng bị đổi đi từ thành phố Poitou qua thành phố Bordeaux để tiếp tục tu học trở thành Linh mục? Từ đây, Angelina không còn gặp lại người yêu của mình nữa. Mải đến gần đây, Angelina mới có dịp liên lạc lại với người yêu. Ba mươi năm trôi qua. Nhưng hai người vẫn còn bị cú sét ái tình cũ, của thời tuổi hai mươi. Từ đó, họ gặp nhau mỗi tháng một lần tại nhà xứ và hằng ngày, họ điện thoại nhau vào 11 giờ đêm, là lúc Cha rảnh sau một ngày chăm sóc cho mười họ đạo ở nhà quê. Ở nhà Cha, bà phải trốn tránh láng giềng, tránh đứng gần cửa sổ. Bà còn lấy số xe theo địa phương để giữ được bí mật an toàn. Bà giải thích «Cũng giống như tất cả những linh mục khác, ông rất sợ! Sợ giám mục biết được, sợ đồng nghiệp biết được, sợ bị hoen ố, sợ mất qui chế Linh mục, và nhứt là sợ làm mất cái tập thể của mình đang xây dựng». Angela vô cùng đau khổ. Mối tình thời tuổi trẻ, một chuyện tình đẹp như bài thơ tình, đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt. Sau mỗi cuối tuần sống chung với nhau, cứ tối đến, bà đi chơi để vơi đi đau khổ. Chàng đi bộ hằng nhiều cây số để giải tỏa mặc cảm tội lỗi. Những phụ nữ trong trường hợp Angela, hiếm người chịu giải bày tâm sự. Họ giữ im lặng vì sợ thân nhơn biết được chuyện của mình, sợ hơn nữa là người bạn tình của mình bị nguy hiểm vì cơ chế giáo hội nơi họ đã tuyên thệ tuyệt đối vâng lời. Trong số 15 000 Linh mục ở Pháp, có ít nhứt 15% có người yêu. Giáo hội xem đó là những trường hợp cá biệt và từ chối cứu xét tổng quát về sự độc thân bắt buộc. Nhưng hiện tượng xã hội này lại tiêu biểu cho một thứ phức tạp bất ổn cho một bộ phận nhân sự già nua vì tuổi trung bình của Linh mục là 70 tuổi. Nghề Linh mục đang bị khủng hoảng trầm trọng. Năm 2009, chỉ có 89 người thụ phong Linh mục. Trước đó, năm 1970, còn có được 300 người nhận chức Linh mục. Ngoài sự khủng hoảng Linh mục còn có thêm sự khủng hoảng niềm tin trong dân chúng do những vụ ấu dâm phổ biến mà Giáo hội không xử lý kịp thời, trái lại còn có thái độ như muốn bao che tội phạm. Linh mục phải giữ độc thân nay đã trở thành lỗi thời vì đó là dấu hiệu cho thấy Giáo hội không kịp thích nghi với đời sống xã hội không ngừng diển tiến. Nhưng lập trường của Đức Thánh Cha trong vấn đề này vẫn không thay đổi tuy sự độc thân bắt buộc cho Linh mục được thiết lập hồi thế kỷ XI nay vẫn còn giá trị như điều kiện không có không được cho nhiệm vụ linh mục.


Một trường hợp ngang trái khác. Alexandra đã phải xa người bạn tình Linh mục bà gặp nhơn một buổi lễ của một làng nhỏ. Alexandra là nhơn viên hành chánh Thị xã, hoàn toàn «vô thần», thôi chồng với 2 con, bổng bị cú xét ái tình ở tuổi 43 với vị Linh mục vừa xem bà như người yêu, vừa là người phụ nữ quyến rũ. Ông thích được bà chờ đợi tại nhà xứ nhưng khi hai thân thể sáp lại gần nhau thì ông lại vội xô bà ra vì cảm thấy «mình chiếm được trọn vẹn» người yêu. Bà nhớ lại ông ấy lo sợ vì yêu bà mà ông không dành được trọn thì giờ cho giáo dân. Ông muốn biến tình yêu thành tình bạn, điều thật khôi hài, thế mà ông vẫn có thể tiếp tục thuyết giảng cho người yêu. Phải chăng vì trước kia ông là giáo sư của chủng viện giảng dạy về tâm lý tình dục và tình yêu vợ chồng cho những Linh mục tương lai mà ngày nay ông còn bị méo mó nghề nghiệp?

Một Linh mục 69 tuổi, vẫn giữ áo thụng đen, yêu một phụ nữ từ hơn mười năm nay. Ông cảm thấy ông tiến theo đà chuyển biến của xã hội. Từ khi ông yêu Eliane, ông cảm thấy ông làm việc đắc lực hơn. Eliane là một phụ nữ xa chồng nhưng chưa ly dị, có 4 con. Yêu là ông chọn cho mình một lập trường cực đoan trong cuộc sống. Nhưng ông không ngại. Trái lại, nhờ yêu, tuy ở tuổi 69, tinh thần của ông được mở mang rộng rải ra. Ông không hề cảm thấy mình bị phạm tội. Ông giải thích «Sự độc thân dành cho những tu sĩ hiến trọn mình cho Chúa. Nhưng tôi, điều đó không phải là thiên chức của tôi. Tôi cần Eliane. Tôi sanh ra không phải để sống cô đơn một mình».

Những cặp yêu nhau này rất hạnh phúc, nhưng phải giữ kín với mọi người. Họ chưa đủ thì giờ để tham gia tranh đấu hủy bỏ sự độc thân bắt buộc đối với Linh mục. Theo họ, độc thân hay yêu nhau thành lứa đôi là sự chọn lựa của mỗi người. Luât độc thân có thể có giá trị lúc đó, nhưng ngày nay hết còn giá trị. Đời sống tình dục là lẽ sống thiết yếu, sanh tử của mọi người. Không biết tình dục là dấu hiệu chưa trưởng thành. Mà chưa trưởng thành làm sao hướng dẩn được con chiên ? Nên người ta không ngạc nhiên khi bắt gặp nhiều Linh mục tìm giải khuây trong rượu hay mất thăng bằng tâm lý. Ngày nay, luật độc thân là một thứ xa xí phẩm làm giảm nghiêm trọng số chủng sinh, hậu quả hiển nhiên là tình trạng Linh mục già nua không được thay thế vì nạn khan hiếm Linh mục trẻ.

Một vị Linh mục trẻ thú nhận thẳng với vị Giám mục mối tình của ông, được vị Giám mục khuyên «Hãy cẩn thận đừng để chuyện này trở thành một trào lưu». Một sự mặc cả!

Linh mục Guy đã phải buộc miệng «Chúng ta đang sống thời lưỡi gổ (langue de buis. Buis là thứ gổ cứng như đá) ngự trị».

Bao giờ luật «độc thân» được tháo gỡ cho Linh mục?

Đức Thánh Cha trong quyển sách của Ngài «Ánh sáng của thế giới» (Lumières du monde) do nhà Bayard ấn hành gần đây, xác định lập trường của Ngài về quan hệ của Linh mục với phụ nữ «Chuyện đó không nên có …». Nơi nào thấy một Linh mục sống với một phụ nữ, hãy xem xét phải chăng thật sự có một ý muốn kết hôn … Nếu đúng như vậy, họ nên tiếp tục con đường của họ đã chọn. Nếu đó chỉ là một sự lệch lạc đạo đức, chúng ta nên tìm cách cứu giúp họ thoát khỏi sa ngã vào tội lỗi...»

Bà Dominique Venturini, 85 tuổi, Hội trưởng Hội «Giữa Ban Ngày», đưa mắt nhìn lên Trời vừa than «Các ông Linh mục đều bị điều kiện hóa hết cả». Bà dành thì giờ giúp đở những phụ nữ tình nhơn của Linh mục và tranh đấu cho luật độc thân phải được hủy bỏ cho các Linh mục. Hằng ngày, bà nhận được thư, e-mails, điện thoại yêu cầu bà giúp đở. Theo công giáo suốt 18 năm, nay bà lên án Giáo hội Vatican «là một định chế ngoan cố, độc đoán, thoái hóa, giết chết nhơn phẩm con người.” Bà cũng đã từng yêu một Linh mục suốt thời gian dài, trong âm thầm, trước khi trở thành người tranh đấu kiên cường sau cái chết của Jean-Marie, Linh mục, người yêu của bà. Mặc dầu là người phản kháng, bà chưa bao giờ bộc bạch chuyện tình yêu Linh mục của bà. Bà bị khóa miệng. “Điều này đã làm mất đi một phần của đời sống phụ nữ, đời sống xã hội của bà và mất quyền sanh đẻ của bà». Nhưng khi kiểm điểm lại, bà không thấy tiếc rẻ điều gì hết. Bà cho rằng «Có được tình yêu tuy không trọn vẹn vẫn còn hơn không có tình yêu. Nhưng tôi đã có được một tình yêu thật sự. Tuy không bỏ nhiêm vụ linh mục, Jean-Marie vẫn công kích định chế Giáo hội và giữ khoảng cách với Giáo hội khi cần».

Theo kết quả điều tra của TNS Sofres thực hiện hồi tháng 6/2009 theo yêu cầu của nhựt báo công giáo Pháp, La Croix, dân Pháp có 83% tỏ ra rất hoan nghênh Linh mục có vợ con bình thường, chỉ có 9% phản đối vì muốn Linh mục phải độc thân. Có 82% dân Pháp đồng ý Linh mục cưới vợ, 8% phản đối. Về quan niệm phụ nữ làm Linh mục, dân chúng Pháp có 80% đồng ý, chỉ có 11% không chịu.

Những cặp yêu nhau đều phải giữ bí mật vì Giáo hội gìn giữ Linh mục phục vụ Đức Chúa Trời. Nhưng không phải với giá nào cũng được. Linh mục Léon Laclau yêu Marga, y tá, và sống với nàng từ hai mươi năm nay. Giáo dân trong Giáo xứ đều biết. Một hôm, ông bị Giám mục gọi lên nhận lãnh sứ mạng mới đi qua Phi châu. Ông từ chối : «Đức Chúa Trời ở trên những cấm đoán của định chế. Tôi không có vấn đề với Ngài. Điều khủng khiếp đều do Giáo hội».

Linh mục Léon Laclau rời Giáo hội, tới Thị xã chánh thức kết hôn với người yêu Marga. Ông vẫn sống tại địa phương, có việc làm và sống bình thường với người yêu.

Ở thế kỷ thứ IV, Giáo hội không coi vấn đề tình dục là quan trọng. Các Giám mục được yêu cầu không nên có vợ. Tiếp theo, các Linh mục không được quan hệ tình dục 24 tiếng trước khi cử hành thánh lễ. Tới thế kỷ XI, Giáo hội cấm các Linh mục lấy vợ để ngăn ngừa lấy tài sản của Giáo xứ và nhà thờ để lại cho con cái thừa hưởng. Tuy nhiên, cho tới năm 1450, Linh mục ở khắp nơi phần đông đều có vợ nên một Linh mục ở Loire-Atlantique ngày nay, sau khi bị tố cáo âm thấm có bồ, lấy làm tiếc cho rằng Giáo hội Vatican bị trể cả mưới thế kỷ trong vấn đề này.

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.