Hôm nay,  

Tình Cha, Tình Con

24/04/201200:00:00(Xem: 10494)
Ba tuần liên tiếp vừa qua, Cỏ May nói chuyện về các Bà ở Pháp. Mà chuyện các Bà ở Pháp chắc không xảy ra ở các nơi khác vì Pháp thường tự hào có một nền văn hóa lâu đời mang sắc thái riêng của Pháp. Thứ văn hóa đặc thù về phụ nữ của Pháp.

Nay cỏ May nói thêm một lần nữa về các Bà đầm ở Pháp. Mà không phải chuyện riêng của các Bà đầm với nhau. Chuyện các Bà đầm với các Ông Cha, tức các Linh mục. Chuyện tình yêu!

Chuyện sẽ lần lượt được kể ra đây không phải do Cỏ May tự đi mở cuộc điều tra vì một hậu ý bôi bác các nhà tu hành hay nhằm phổ quát hóa một vài trường hợp cá biệc, mà Cỏ May chỉ thu lượm kết quả điều tra được phổ biến trên báo chí Pháp, trên TV Pháp bằng các cuộc thảo luận sôi nổi.

Thầy Chùa ở khắp nơi, từ lâu nay, liên lụy đàn bà đã trở thành phổ thông. Có trường hợp Thầy Chùa xâm phạm tiết hạnh phụ nữ bị đưa ra Tòa án và bị phạt tù và cả tiền hằng triệu đô-la. Thầy Chùa vi phạm giới luật của kẻ xuất gia vì vụng trộm liên hệ phụ nữ. Tương tự với Linh mục. Chẳng những vi phạm giới luật tôn giáo mà cả luật pháp xã hội về hình sự. Cũng chỉ vì cả hai đều là con người thế gian. Những con người không giữ mình theo đạo đức được.

Nhưng chuyện của Cỏ May hôm nay không phải những chuyện vi phạm giới luật tôn giáo hay vi phạm pháp luật xã hội mà là chuyện tình của các Bà với Linh mục. Cả hai đều yêu nhau tha thiết. Cái trở ngại mà họ gặp phải, không vượt qua được, là Giáo hội Vatican vẫn ngăn cấm Linh mục lấy vợ, tức phải giữ độc thân, đã làm cho nhiều người phải âm thầm đau khổ và nhiều khi phải xa nhau.

Công bố những mối tình éo le, âm thầm kéo dài, tang vở trong đau thương hoặc công khai hợp thức hóa, đều nhằm chung một mục tiêu là phản đối giáo hội bảo thủ quá lỗi thời, trong lúc tội ấu dâm lại cố tình bao che suốt thời gian dài đã làm mất uy tín lạnh đạo của giáo hội.

Đức Thánh Cha bị thưa về tội chống nhơn loại 

Trong gần đây, Đài TV công cộng của Đức ZDF công khai phê phán «Uy tín của Giáo hội Vatican bị tổn thương nghiêm trọng» vì bị một số lớn tín đồ chống đối các vị Linh mục vi phạm tội ấu dâm suốt thời gian dài mà không bị Giáo hội và Đức Thánh Cha xử lý.

Ông Wolfgang Thierse, Phó chủ tịch Quốc Hội Đức,với tư cách thành viên của Ủy Ban công giáo Đức, Đại diện cho quyền lợi công giáo trong xã hội, cũng lên tiếng phản đối giáo quyền ở Vatican. Nhiều giáo dân ở Đức yêu cầu đưa vấn đề Linh mục phải giữ «độc thân» ra thảo luận.

Trên TV Pháp trong một chương trình thảo luận về tính «độc thân» bắt buộc của Linh mục, một vị Linh mục trả lời câu hỏi của nhà báo, khẳng định «Linh mục chỉ bị bắt buộc giữ độc thân, tức không lấy vợ, chớ luật Giáo hội không bắt buộc Linh mục phải giữ trinh tiết (Vị Linh mục dùng chữ la Chasteté = sự trinh tiết), tức không quan hệ tình dục».

Dân chúng giáo dân Đức và Ủy Ban Công giáo Đức muốn Giáo hội phải lương thiện hơn và nghiêm minh hơn với chính mình và cả với Đức Thánh Cha vì năm 1980, đã cho một vị Giám mục phạm tội ấu dâm tỵ nạn khi ông này điều khiển Giáo phận ở Munichen. Ông Wolfgang Thierse bày tỏ ý kiến rằng Giáo hội cần phải làm sáng tỏ vụ này cho nạn nhơn và đền bù thiệt hại cho nạn nhơn cả bằng tiền bạc.

Vì sự im lặng của Giáo hội trong vừa qua kéo dài quá lâu trước những phản ứng của dư luận giáo dân, Hội các nạn nhơn ấu dâm của Linh mục đã nộp đơn thưa Đức Thánh Cha Benoit XVI và nhũng chức sắc của Vatican ở Tòa án Hình sự Quốc tế La Haye về tội chống nhơn loại. Nguyên đơn tố cáo Giáo hội Vatican nhắm mắt về những tội ấu dâm trên khắp thế giới. Theo Hội nạn nhơn, hồ sơ thưa dày 10000 trang với chứng từ về ấu dâm và yêu cầu xét xử Đức Thánh Cha về trách nhiệm trực tiếp của Ông với tư cách người lãnh đạo tối cao Giáo hội.

Khi vụ việc bùng nổ, Đức Thánh Cha Benoit XVI tuyên bố «lấy làm xấu hổ và có lời xin lỗi». Ngài kêu gọi tất cả Giám mục phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với giáo phận của mình về mặt hình sự.

Vì có đơn thưa, người ta lo ngại Đức Thánh Cha sẽ có thể phải giải thích nội vụ trước công lý?

Những mối tình với Cha và của Cha

Nhiều bà yêu Linh mục không cần biết đó là mối tình éo le sẽ không tránh khỏi dẩn đến đau khổ. Âm thầm, họ yêu và sống đau khổ với người bạn tình bị dày xéo giữa lời hứa giữ «độc thân» và sự say đắm người phụ nữ. Trên tuần báo Người Quan sát Mới (Le Nouvel Observateur) số phát hành ngày 2/11/2011 ở Paris, Bà Elisa Mignot đã cho phổ biến kết quả điều tra thu thập được khá nhiều từ những phụ nữ yêu Linh mục, có khi đó là những bà mẹ của những đứa con sanh ra từ mối tình với Linh mục. Giáo hội Vatican là nguyên nhơn của đau khổ và đỗ vỡ.

Hai người vào tuổi đôi mươi. Họ gặp nhau và yêu nhau trong lúc chàng là một chủng sinh và nàng là sinh viên Đại học, tích cực hoạt động cho giáo xứ. Không biết phải vì mối tình thầm kín này bị phát hiện mà chàng bị đổi đi từ thành phố Poitou qua thành phố Bordeaux để tiếp tục tu học trở thành Linh mục? Từ đây, Angelina không còn gặp lại người yêu của mình nữa. Mải đến gần đây, Angelina mới có dịp liên lạc lại với người yêu. Ba mươi năm trôi qua. Nhưng hai người vẫn còn bị cú sét ái tình cũ, của thời tuổi hai mươi. Từ đó, họ gặp nhau mỗi tháng một lần tại nhà xứ và hằng ngày, họ điện thoại nhau vào 11 giờ đêm, là lúc Cha rảnh sau một ngày chăm sóc cho mười họ đạo ở nhà quê. Ở nhà Cha, bà phải trốn tránh láng giềng, tránh đứng gần cửa sổ. Bà còn lấy số xe theo địa phương để giữ được bí mật an toàn. Bà giải thích «Cũng giống như tất cả những linh mục khác, ông rất sợ! Sợ giám mục biết được, sợ đồng nghiệp biết được, sợ bị hoen ố, sợ mất qui chế Linh mục, và nhứt là sợ làm mất cái tập thể của mình đang xây dựng». Angela vô cùng đau khổ. Mối tình thời tuổi trẻ, một chuyện tình đẹp như bài thơ tình, đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt. Sau mỗi cuối tuần sống chung với nhau, cứ tối đến, bà đi chơi để vơi đi đau khổ. Chàng đi bộ hằng nhiều cây số để giải tỏa mặc cảm tội lỗi. Những phụ nữ trong trường hợp Angela, hiếm người chịu giải bày tâm sự. Họ giữ im lặng vì sợ thân nhơn biết được chuyện của mình, sợ hơn nữa là người bạn tình của mình bị nguy hiểm vì cơ chế giáo hội nơi họ đã tuyên thệ tuyệt đối vâng lời. Trong số 15 000 Linh mục ở Pháp, có ít nhứt 15% có người yêu. Giáo hội xem đó là những trường hợp cá biệt và từ chối cứu xét tổng quát về sự độc thân bắt buộc. Nhưng hiện tượng xã hội này lại tiêu biểu cho một thứ phức tạp bất ổn cho một bộ phận nhân sự già nua vì tuổi trung bình của Linh mục là 70 tuổi. Nghề Linh mục đang bị khủng hoảng trầm trọng. Năm 2009, chỉ có 89 người thụ phong Linh mục. Trước đó, năm 1970, còn có được 300 người nhận chức Linh mục. Ngoài sự khủng hoảng Linh mục còn có thêm sự khủng hoảng niềm tin trong dân chúng do những vụ ấu dâm phổ biến mà Giáo hội không xử lý kịp thời, trái lại còn có thái độ như muốn bao che tội phạm. Linh mục phải giữ độc thân nay đã trở thành lỗi thời vì đó là dấu hiệu cho thấy Giáo hội không kịp thích nghi với đời sống xã hội không ngừng diển tiến. Nhưng lập trường của Đức Thánh Cha trong vấn đề này vẫn không thay đổi tuy sự độc thân bắt buộc cho Linh mục được thiết lập hồi thế kỷ XI nay vẫn còn giá trị như điều kiện không có không được cho nhiệm vụ linh mục.


Một trường hợp ngang trái khác. Alexandra đã phải xa người bạn tình Linh mục bà gặp nhơn một buổi lễ của một làng nhỏ. Alexandra là nhơn viên hành chánh Thị xã, hoàn toàn «vô thần», thôi chồng với 2 con, bổng bị cú xét ái tình ở tuổi 43 với vị Linh mục vừa xem bà như người yêu, vừa là người phụ nữ quyến rũ. Ông thích được bà chờ đợi tại nhà xứ nhưng khi hai thân thể sáp lại gần nhau thì ông lại vội xô bà ra vì cảm thấy «mình chiếm được trọn vẹn» người yêu. Bà nhớ lại ông ấy lo sợ vì yêu bà mà ông không dành được trọn thì giờ cho giáo dân. Ông muốn biến tình yêu thành tình bạn, điều thật khôi hài, thế mà ông vẫn có thể tiếp tục thuyết giảng cho người yêu. Phải chăng vì trước kia ông là giáo sư của chủng viện giảng dạy về tâm lý tình dục và tình yêu vợ chồng cho những Linh mục tương lai mà ngày nay ông còn bị méo mó nghề nghiệp?

Một Linh mục 69 tuổi, vẫn giữ áo thụng đen, yêu một phụ nữ từ hơn mười năm nay. Ông cảm thấy ông tiến theo đà chuyển biến của xã hội. Từ khi ông yêu Eliane, ông cảm thấy ông làm việc đắc lực hơn. Eliane là một phụ nữ xa chồng nhưng chưa ly dị, có 4 con. Yêu là ông chọn cho mình một lập trường cực đoan trong cuộc sống. Nhưng ông không ngại. Trái lại, nhờ yêu, tuy ở tuổi 69, tinh thần của ông được mở mang rộng rải ra. Ông không hề cảm thấy mình bị phạm tội. Ông giải thích «Sự độc thân dành cho những tu sĩ hiến trọn mình cho Chúa. Nhưng tôi, điều đó không phải là thiên chức của tôi. Tôi cần Eliane. Tôi sanh ra không phải để sống cô đơn một mình».

Những cặp yêu nhau này rất hạnh phúc, nhưng phải giữ kín với mọi người. Họ chưa đủ thì giờ để tham gia tranh đấu hủy bỏ sự độc thân bắt buộc đối với Linh mục. Theo họ, độc thân hay yêu nhau thành lứa đôi là sự chọn lựa của mỗi người. Luât độc thân có thể có giá trị lúc đó, nhưng ngày nay hết còn giá trị. Đời sống tình dục là lẽ sống thiết yếu, sanh tử của mọi người. Không biết tình dục là dấu hiệu chưa trưởng thành. Mà chưa trưởng thành làm sao hướng dẩn được con chiên ? Nên người ta không ngạc nhiên khi bắt gặp nhiều Linh mục tìm giải khuây trong rượu hay mất thăng bằng tâm lý. Ngày nay, luật độc thân là một thứ xa xí phẩm làm giảm nghiêm trọng số chủng sinh, hậu quả hiển nhiên là tình trạng Linh mục già nua không được thay thế vì nạn khan hiếm Linh mục trẻ.

Một vị Linh mục trẻ thú nhận thẳng với vị Giám mục mối tình của ông, được vị Giám mục khuyên «Hãy cẩn thận đừng để chuyện này trở thành một trào lưu». Một sự mặc cả!

Linh mục Guy đã phải buộc miệng «Chúng ta đang sống thời lưỡi gổ (langue de buis. Buis là thứ gổ cứng như đá) ngự trị».

Bao giờ luật «độc thân» được tháo gỡ cho Linh mục?

Đức Thánh Cha trong quyển sách của Ngài «Ánh sáng của thế giới» (Lumières du monde) do nhà Bayard ấn hành gần đây, xác định lập trường của Ngài về quan hệ của Linh mục với phụ nữ «Chuyện đó không nên có …». Nơi nào thấy một Linh mục sống với một phụ nữ, hãy xem xét phải chăng thật sự có một ý muốn kết hôn … Nếu đúng như vậy, họ nên tiếp tục con đường của họ đã chọn. Nếu đó chỉ là một sự lệch lạc đạo đức, chúng ta nên tìm cách cứu giúp họ thoát khỏi sa ngã vào tội lỗi...»

Bà Dominique Venturini, 85 tuổi, Hội trưởng Hội «Giữa Ban Ngày», đưa mắt nhìn lên Trời vừa than «Các ông Linh mục đều bị điều kiện hóa hết cả». Bà dành thì giờ giúp đở những phụ nữ tình nhơn của Linh mục và tranh đấu cho luật độc thân phải được hủy bỏ cho các Linh mục. Hằng ngày, bà nhận được thư, e-mails, điện thoại yêu cầu bà giúp đở. Theo công giáo suốt 18 năm, nay bà lên án Giáo hội Vatican «là một định chế ngoan cố, độc đoán, thoái hóa, giết chết nhơn phẩm con người.” Bà cũng đã từng yêu một Linh mục suốt thời gian dài, trong âm thầm, trước khi trở thành người tranh đấu kiên cường sau cái chết của Jean-Marie, Linh mục, người yêu của bà. Mặc dầu là người phản kháng, bà chưa bao giờ bộc bạch chuyện tình yêu Linh mục của bà. Bà bị khóa miệng. “Điều này đã làm mất đi một phần của đời sống phụ nữ, đời sống xã hội của bà và mất quyền sanh đẻ của bà». Nhưng khi kiểm điểm lại, bà không thấy tiếc rẻ điều gì hết. Bà cho rằng «Có được tình yêu tuy không trọn vẹn vẫn còn hơn không có tình yêu. Nhưng tôi đã có được một tình yêu thật sự. Tuy không bỏ nhiêm vụ linh mục, Jean-Marie vẫn công kích định chế Giáo hội và giữ khoảng cách với Giáo hội khi cần».

Theo kết quả điều tra của TNS Sofres thực hiện hồi tháng 6/2009 theo yêu cầu của nhựt báo công giáo Pháp, La Croix, dân Pháp có 83% tỏ ra rất hoan nghênh Linh mục có vợ con bình thường, chỉ có 9% phản đối vì muốn Linh mục phải độc thân. Có 82% dân Pháp đồng ý Linh mục cưới vợ, 8% phản đối. Về quan niệm phụ nữ làm Linh mục, dân chúng Pháp có 80% đồng ý, chỉ có 11% không chịu.

Những cặp yêu nhau đều phải giữ bí mật vì Giáo hội gìn giữ Linh mục phục vụ Đức Chúa Trời. Nhưng không phải với giá nào cũng được. Linh mục Léon Laclau yêu Marga, y tá, và sống với nàng từ hai mươi năm nay. Giáo dân trong Giáo xứ đều biết. Một hôm, ông bị Giám mục gọi lên nhận lãnh sứ mạng mới đi qua Phi châu. Ông từ chối : «Đức Chúa Trời ở trên những cấm đoán của định chế. Tôi không có vấn đề với Ngài. Điều khủng khiếp đều do Giáo hội».

Linh mục Léon Laclau rời Giáo hội, tới Thị xã chánh thức kết hôn với người yêu Marga. Ông vẫn sống tại địa phương, có việc làm và sống bình thường với người yêu.

Ở thế kỷ thứ IV, Giáo hội không coi vấn đề tình dục là quan trọng. Các Giám mục được yêu cầu không nên có vợ. Tiếp theo, các Linh mục không được quan hệ tình dục 24 tiếng trước khi cử hành thánh lễ. Tới thế kỷ XI, Giáo hội cấm các Linh mục lấy vợ để ngăn ngừa lấy tài sản của Giáo xứ và nhà thờ để lại cho con cái thừa hưởng. Tuy nhiên, cho tới năm 1450, Linh mục ở khắp nơi phần đông đều có vợ nên một Linh mục ở Loire-Atlantique ngày nay, sau khi bị tố cáo âm thấm có bồ, lấy làm tiếc cho rằng Giáo hội Vatican bị trể cả mưới thế kỷ trong vấn đề này.

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.