Hôm nay,  

Tâm Hành Gia

08/03/200700:00:00(Xem: 15677)

Tâm Hành Gia

Lati Rinpoche
   ... Là những hành giả thám hiểm cái tâm của chúng sinh.

DHARAMSALA - Chuyện tử sinh của chúng ta là một khoa học chưa được các nhà khoa học chú ý đúng mức.

Khoa học tân tiến nhất của loài người ngày nay đã tìm đến Nguyệt cầu, Hoả tinh, và đã có các phi hành gia bay bổng ra ngoài tầng khí quyển để thám hiểm vũ trụ. Nhưng, ở bên trong, chúng ta biết gì về chính mình" Và về chính mình sau khi "tạ thế". Cái "thế" ấy là cuộc đời hữu hạn của mọi người ở bên này, nhưng "bên kia" cái ngưỡng cửa tử sinh ấy là gì" Là một hành lang như trong phi cảnh sẽ dẫn ta qua một chuyến bay khác" Bay tới đâu"

Mà có khi nào mình trở lại bên này hay không, dưới hình dạng ra sao"

Trên thế giới, duy nhất có một nền văn minh phát sinh trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn đã cúi nhìn và tìm hiểu về những câu hỏi ấy của mọi người. Đó là nền văn minh Tây Tạng. Họ không có phi hành gia thám hiểm vũ trụ mà có các "tâm hành gia".

Đấy là những nhà tu, các vị hành giả, chuyên chú tìm hiểu về chuyện sống chết như một khoa học gia - theo đúng nghĩa hiện đại của chữ này. Họ thám hiểm chính con người, từ khi ra đời cho tới khi tạ thế và tìm hiểu tiếp về một cõi "tạm du", một trạm "trung chuyển", trước khi con người đó lại trở về, lại tái sinh. Tái sinh ở một hình dạng với một tâm tính cao hay thấp hơn thì còn tùy vào kiếp này. Họ nghĩ, và biết, là khi hiểu ra chuỗi tiến hoá vô thường ấy thì mình đã được giải phóng khỏi cái chết. Hết sợ chết vì đã tìm ra một sự thật, một định nghĩa khác về cái chết. Vì chết chưa là hết.

Trong một ý nghĩa nào đó, Phật giáo Tây Tạng hàm chứa một thuyết tiến hoá kiểu Darwin. Nhưng với những quy luật tiến hoá khác, chủ yếu tùy thuộc vào cái tâm. Vì vậy, Giáo sư và Nhà sư Robert Thurman mới gọi họ là 'psychonauts', tâm hành gia!

Trong truyện Anh hùng Xạ điêu, nhân vật Quách Tĩnh của Kim Dung đã hỏi nhân vật lịch sử là Thành Cát Tư Hãn một câu để đời: "Chinh phục cả thiên hạ như thế, khi chết, Đại Hãn sẽ chinh phục bao thước đất"" Vấn nạn triết học bật ra từ một cậu bé trâu nước ù lỳ chậm hiểu!

Lịch sử cho biết là Thành Cát Tư Hãn tạ thế dưới chân thành Tây Hạ.

Lịch sử cũng cho biết là con cháu của ông về sau lại tôn các vị cao tăng Phật giáo Tây Tạng làm thầy.

Năm 1573, danh vị Đạt Lai Lạt Ma - Trí huệ như biển cả - là do một Đại Hãn Mông Cổ, một Hoàng đế nhà Nguyên, lần đầu tiên phong cho Đại sư Sonam Gyatso, là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ ba. Từ vị Đạt Lai Lạt Ma này, dân Tây Tạng mới suy ngược lên hai vị trước, và truyền thừa đến vị Phật sống tái sinh thứ 14 là đức Đạt Lai Lạt Ma đời nay, một hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lịch sử cũng ghi lại rằng đế quốc lớn nhất lịch sử nhân loại do Thành Cát Tư Hãn xây dựng cuối cùng đã được "Phật hoá", tự giải giới để trở thành hiếu hoà, là nhờ công đức của các vị Lạt ma Tây Tạng. Phật giáo tại Mông Cổ đã từng được gọi là Lạt ma giáo cũng từ phép màu của Tây Tạng.

Trước Thành Cát Tư Hãn 17 thế kỷ, một nhà chinh phục nổi danh khác cũng đã muốn thám hiểm chuyện tử sinh. Đó là Tần Thủy Hoàng Đế. Sau khi gồm thâu lục quốc thống nhất thiên hạ, ông không muốn chết mà sai bọn phương sĩ đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Chuyện hão huyền vì sau cùng Tần Thủy Hoàng Đế cũng chết!

Nhưng, ngoài phép tập trung cai trị bằng chế độ quận huyện, ông còn để lại một di sản tai hại khác là vai trò của các phương sĩ ưa bàn ngang tán dọc về chuyện tử sinh! Văn minh Trung Hoa từ đó đi qua hướng khác, với các Thiên tử hoàn toàn chấp vào chuyện hình tướng của kiếp này và bọn phương sĩ nửa Lão nửa Nho đẻ ra một hình thái chuyên chế tuyệt đối kéo dài gần hai ngàn năm.

Trong khi ấy, Tây Tạng lại bước qua ngả khác.

Là một quốc gia thiện chiến và hiếu chiến, một tiền lệ trước Mông Cổ đến sáu thế kỷ, người Tây Tạng bỗng tự giải giới và quay vào trong, vào trong tâm, kể từ vua Tùng Tán Can Bố (Songsen Gambo) vào đầu thế kỷ thứ bảy. Vị vua hùng tài này đã du nhập đạo Phật từ Ấn Độ và chuyển hoá một đế quốc hùng cường thành một quốc gia hiếu hoà: từ đấy, dân Tây Tạng dồn sức xây chùa và xây trường (hai khái niệm này thực ra là một, là những tu viện Tây Tạng ta thấy ngày nay).

Đây là nơi mà các phần tử ưu tú, các học giả và cũng là những nhà sư, đã thu thập kiến thức hiện đại nhất từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư, Mông Cổ và Đột Quyết (Hồi Hột, Uighur ngày nay) về tôn giáo, thi ca, toán học, và còn lập cả một hệ thống y học kết hợp các bộ môn như cơ thể học, thần kinh học, tâm lý, giải phẫu, thảo mộc học, hoá học và cả dưỡng sinh học. Ở trên cùng là những lý giải của Phật giáo, du nhập từ Ấn Độ nhưng được nghiên cứu và khai triển thâm sâu gấp bội, khi Phật giáo bị suy tàn tại Ấn.....

Với những kiến thức tổng hợp từ bốn phương, lại ở trên nóc thế giới và có tuổi thọ giới hạn vì điều kiện sinh sống khắc nghiệt trên đỉnh cao ấy, người Tây Tạng đã sớm chú ý đến một đề tài không thể bỏ qua được, và chú ý theo tinh thần khoa học.

Là nghiên cứu về cái chết.

Với chúng ta, hay Tây phương ngày nay, cái chết là một sự kết thúc. Một sự giải thoát nếu kiếp sống này quá buồn khổ, hay một bi kịch đau buồn mà mình tránh không được. Và ta định nghĩa cái chết - một cách khoa học và pháp lý - là khi tim ngừng óc bặt.

Dân Tây Tạng cũng đồng ý với chúng ta về điều ấy. Cái chết là một thảm kịch vào cuối đời, nhưng họ đi xa hơn khi tìm ra định nghĩa khác về chữ "đời" này và định nghĩa lại chữ "chết". Họ đã tu tập và suy nghiệm để định nghĩa lại vì đã thấy rằng cái chết chỉ khép một cánh cửa của đời này nhưng mở ra một cánh cửa khác, bước qua một cõi khác. Vui hay buồn là khi ta có hay không chuẩn bị cho chuyến đi ấy!

Nếu biết trước và tự chuẩn bị thì mình được giải phóng khỏi nỗi ưu tư về chuyện "có-không" hay "được-mất" của kiếp này. Nếu chuẩn bị chu đáo hơn, bằng cả một hành trình tu tập, mình còn có thể chủ động chọn được cái cõi tạm sẽ đến để từ đó sẽ trở về, sẽ tái sinh. Nhưng mục tiêu tái sinh không để trở thành triệu phú hay tổng thống, mà để nâng cao giá trị của mình bằng cách cứu giúp người khác. Tinh thần Đại thừa và chân lý Bồ tát hạnh của Phật giáo Tây Tạng đòi hỏi ý chí vị tha ấy ngay trong chuyện sống chết. Bồ tát là người đã thành Phật nhưng vẫn quay trở về để cứu độ chúng sinh.

Tất cả chỉ vì cái tâm bồ đề, Bồ đề tâm, cái lòng từ bi như một thuộc tính, một căn tính bẩm sinh của con người. Ta gọi đó là Phật tánh cũng đúng.

Vì vậy, chúng ta thấy ra cái vòng chu chuyển rất hợp lý của hệ thống lý luận Tây Tạng: lòng từ bi thúc giục tinh thần hiếu hoà không hiếu chiến; lòng từ bi khiến ta muốn sống hữu ích cho người khác; và khi chết đi thì cũng chỉ như bước qua một chặng khác của một con đường dài - không vạch ra từ không gian hay cõi "không" trống vắng và lạnh lẽo mà chúng ta nghĩ về cái chết - để sẽ tái sinh làm người hữu ích hơn nữa.

Trong thế giới ấy, chúng ta mới thấy các vị "tulku" hay "Phật sống", những người đã vượt lẽ tử sinh thường hằng, để quay trở lại là Lạt Ma, là Rinpoche hay Đạt Lai Lạt Ma....

Tần Thủy Hoàng Đế ngày xưa cũng muốn sống mãi như vậy mà không thành. Ông ta phải "sống giả" bằng những lăng mộ thật giả được xây dựng kiên cố và bí hiểm. Ông ta thật ra không biết chết.

Con cháu của ông, giới lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay, cũng lại tiếp tục sự nghiệp cũ khi xâm chiếm và muốn tiêu diệt luôn nền văn minh Tây Tạng. Họ thua kém các Hoàng Đế Nguyên Mông trong cách đối xử với các vị tâm hành giả của nền văn hoá và tôn giáo này.

Chúng ta chưa thể biết được là các vị cao tăng Tây Tạng, đứng đầu là đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể tái diễn được phép cảm hoá màu nhiệm của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba với các Đại Hãn Mông Cổ hay không. Nhưng, cũng do thảm kịch Tây Tạng mà thế giới bắt đầu biết rõ hơn về các vị "tâm hành gia" Tây Tạng.

Một trong những nhân vật ấy là Lati Rinpoche.

Ngài là thầy dạy học và dạy đạo cho đức Đạt Lai Lạt Ma năm xưa và nay vẫn là một cố vấn về giáo lý và lý luận Phật học cho vị lãnh tụ Tây Tạng. Ngài là hoá thân - Rinpoche - của một đại cao tăng và là một kho báu của dân tộc Tây Tạng. Ngài cũng đã giới thiệu hay giải thích cho nhân thế những kiến giải của mình về cái chết, về cõi tạm và sự tái sinh trong cuốn Death, Intermediate Sate and Rebirth do nhà Snow Lion xuất bản năm 1985 tại New York.

Bài này được viết như một lời tạ ơn của tác giả khi Đại lão Hoà thượng Lati Rinpoche phái các đệ tử thay mặt Ngài tổ chức dạ tiệc khoản đãi riêng một số Phật tử từ California qua Dharamsala dự khoá thuyết pháp năm nay của đức Đạt Lai Lạt Ma. Thời điểm là tối Thứ Năm mùng tám tháng Ba. Nơi tổ chức là nhà hàng Chonor House do Phật tử Richard Gere thành lập cheo leo trên một con dốc nhìn qua đỉnh núi tuyết!

Đây là biến cố làm mọi người chưng hửng vì chưa từng có bao giờ!

Trong một bài khác, biết đâu tác giả chẳng có duyên may viết tiếp về vị tâm hành gia này"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.