Hôm nay,  

Tâm Hành Gia

08/03/200700:00:00(Xem: 15666)

Tâm Hành Gia

Lati Rinpoche
   ... Là những hành giả thám hiểm cái tâm của chúng sinh.

DHARAMSALA - Chuyện tử sinh của chúng ta là một khoa học chưa được các nhà khoa học chú ý đúng mức.

Khoa học tân tiến nhất của loài người ngày nay đã tìm đến Nguyệt cầu, Hoả tinh, và đã có các phi hành gia bay bổng ra ngoài tầng khí quyển để thám hiểm vũ trụ. Nhưng, ở bên trong, chúng ta biết gì về chính mình" Và về chính mình sau khi "tạ thế". Cái "thế" ấy là cuộc đời hữu hạn của mọi người ở bên này, nhưng "bên kia" cái ngưỡng cửa tử sinh ấy là gì" Là một hành lang như trong phi cảnh sẽ dẫn ta qua một chuyến bay khác" Bay tới đâu"

Mà có khi nào mình trở lại bên này hay không, dưới hình dạng ra sao"

Trên thế giới, duy nhất có một nền văn minh phát sinh trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn đã cúi nhìn và tìm hiểu về những câu hỏi ấy của mọi người. Đó là nền văn minh Tây Tạng. Họ không có phi hành gia thám hiểm vũ trụ mà có các "tâm hành gia".

Đấy là những nhà tu, các vị hành giả, chuyên chú tìm hiểu về chuyện sống chết như một khoa học gia - theo đúng nghĩa hiện đại của chữ này. Họ thám hiểm chính con người, từ khi ra đời cho tới khi tạ thế và tìm hiểu tiếp về một cõi "tạm du", một trạm "trung chuyển", trước khi con người đó lại trở về, lại tái sinh. Tái sinh ở một hình dạng với một tâm tính cao hay thấp hơn thì còn tùy vào kiếp này. Họ nghĩ, và biết, là khi hiểu ra chuỗi tiến hoá vô thường ấy thì mình đã được giải phóng khỏi cái chết. Hết sợ chết vì đã tìm ra một sự thật, một định nghĩa khác về cái chết. Vì chết chưa là hết.

Trong một ý nghĩa nào đó, Phật giáo Tây Tạng hàm chứa một thuyết tiến hoá kiểu Darwin. Nhưng với những quy luật tiến hoá khác, chủ yếu tùy thuộc vào cái tâm. Vì vậy, Giáo sư và Nhà sư Robert Thurman mới gọi họ là 'psychonauts', tâm hành gia!

Trong truyện Anh hùng Xạ điêu, nhân vật Quách Tĩnh của Kim Dung đã hỏi nhân vật lịch sử là Thành Cát Tư Hãn một câu để đời: "Chinh phục cả thiên hạ như thế, khi chết, Đại Hãn sẽ chinh phục bao thước đất"" Vấn nạn triết học bật ra từ một cậu bé trâu nước ù lỳ chậm hiểu!

Lịch sử cho biết là Thành Cát Tư Hãn tạ thế dưới chân thành Tây Hạ.

Lịch sử cũng cho biết là con cháu của ông về sau lại tôn các vị cao tăng Phật giáo Tây Tạng làm thầy.

Năm 1573, danh vị Đạt Lai Lạt Ma - Trí huệ như biển cả - là do một Đại Hãn Mông Cổ, một Hoàng đế nhà Nguyên, lần đầu tiên phong cho Đại sư Sonam Gyatso, là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ ba. Từ vị Đạt Lai Lạt Ma này, dân Tây Tạng mới suy ngược lên hai vị trước, và truyền thừa đến vị Phật sống tái sinh thứ 14 là đức Đạt Lai Lạt Ma đời nay, một hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lịch sử cũng ghi lại rằng đế quốc lớn nhất lịch sử nhân loại do Thành Cát Tư Hãn xây dựng cuối cùng đã được "Phật hoá", tự giải giới để trở thành hiếu hoà, là nhờ công đức của các vị Lạt ma Tây Tạng. Phật giáo tại Mông Cổ đã từng được gọi là Lạt ma giáo cũng từ phép màu của Tây Tạng.

Trước Thành Cát Tư Hãn 17 thế kỷ, một nhà chinh phục nổi danh khác cũng đã muốn thám hiểm chuyện tử sinh. Đó là Tần Thủy Hoàng Đế. Sau khi gồm thâu lục quốc thống nhất thiên hạ, ông không muốn chết mà sai bọn phương sĩ đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Chuyện hão huyền vì sau cùng Tần Thủy Hoàng Đế cũng chết!

Nhưng, ngoài phép tập trung cai trị bằng chế độ quận huyện, ông còn để lại một di sản tai hại khác là vai trò của các phương sĩ ưa bàn ngang tán dọc về chuyện tử sinh! Văn minh Trung Hoa từ đó đi qua hướng khác, với các Thiên tử hoàn toàn chấp vào chuyện hình tướng của kiếp này và bọn phương sĩ nửa Lão nửa Nho đẻ ra một hình thái chuyên chế tuyệt đối kéo dài gần hai ngàn năm.

Trong khi ấy, Tây Tạng lại bước qua ngả khác.

Là một quốc gia thiện chiến và hiếu chiến, một tiền lệ trước Mông Cổ đến sáu thế kỷ, người Tây Tạng bỗng tự giải giới và quay vào trong, vào trong tâm, kể từ vua Tùng Tán Can Bố (Songsen Gambo) vào đầu thế kỷ thứ bảy. Vị vua hùng tài này đã du nhập đạo Phật từ Ấn Độ và chuyển hoá một đế quốc hùng cường thành một quốc gia hiếu hoà: từ đấy, dân Tây Tạng dồn sức xây chùa và xây trường (hai khái niệm này thực ra là một, là những tu viện Tây Tạng ta thấy ngày nay).

Đây là nơi mà các phần tử ưu tú, các học giả và cũng là những nhà sư, đã thu thập kiến thức hiện đại nhất từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư, Mông Cổ và Đột Quyết (Hồi Hột, Uighur ngày nay) về tôn giáo, thi ca, toán học, và còn lập cả một hệ thống y học kết hợp các bộ môn như cơ thể học, thần kinh học, tâm lý, giải phẫu, thảo mộc học, hoá học và cả dưỡng sinh học. Ở trên cùng là những lý giải của Phật giáo, du nhập từ Ấn Độ nhưng được nghiên cứu và khai triển thâm sâu gấp bội, khi Phật giáo bị suy tàn tại Ấn.....

Với những kiến thức tổng hợp từ bốn phương, lại ở trên nóc thế giới và có tuổi thọ giới hạn vì điều kiện sinh sống khắc nghiệt trên đỉnh cao ấy, người Tây Tạng đã sớm chú ý đến một đề tài không thể bỏ qua được, và chú ý theo tinh thần khoa học.

Là nghiên cứu về cái chết.

Với chúng ta, hay Tây phương ngày nay, cái chết là một sự kết thúc. Một sự giải thoát nếu kiếp sống này quá buồn khổ, hay một bi kịch đau buồn mà mình tránh không được. Và ta định nghĩa cái chết - một cách khoa học và pháp lý - là khi tim ngừng óc bặt.

Dân Tây Tạng cũng đồng ý với chúng ta về điều ấy. Cái chết là một thảm kịch vào cuối đời, nhưng họ đi xa hơn khi tìm ra định nghĩa khác về chữ "đời" này và định nghĩa lại chữ "chết". Họ đã tu tập và suy nghiệm để định nghĩa lại vì đã thấy rằng cái chết chỉ khép một cánh cửa của đời này nhưng mở ra một cánh cửa khác, bước qua một cõi khác. Vui hay buồn là khi ta có hay không chuẩn bị cho chuyến đi ấy!

Nếu biết trước và tự chuẩn bị thì mình được giải phóng khỏi nỗi ưu tư về chuyện "có-không" hay "được-mất" của kiếp này. Nếu chuẩn bị chu đáo hơn, bằng cả một hành trình tu tập, mình còn có thể chủ động chọn được cái cõi tạm sẽ đến để từ đó sẽ trở về, sẽ tái sinh. Nhưng mục tiêu tái sinh không để trở thành triệu phú hay tổng thống, mà để nâng cao giá trị của mình bằng cách cứu giúp người khác. Tinh thần Đại thừa và chân lý Bồ tát hạnh của Phật giáo Tây Tạng đòi hỏi ý chí vị tha ấy ngay trong chuyện sống chết. Bồ tát là người đã thành Phật nhưng vẫn quay trở về để cứu độ chúng sinh.

Tất cả chỉ vì cái tâm bồ đề, Bồ đề tâm, cái lòng từ bi như một thuộc tính, một căn tính bẩm sinh của con người. Ta gọi đó là Phật tánh cũng đúng.

Vì vậy, chúng ta thấy ra cái vòng chu chuyển rất hợp lý của hệ thống lý luận Tây Tạng: lòng từ bi thúc giục tinh thần hiếu hoà không hiếu chiến; lòng từ bi khiến ta muốn sống hữu ích cho người khác; và khi chết đi thì cũng chỉ như bước qua một chặng khác của một con đường dài - không vạch ra từ không gian hay cõi "không" trống vắng và lạnh lẽo mà chúng ta nghĩ về cái chết - để sẽ tái sinh làm người hữu ích hơn nữa.

Trong thế giới ấy, chúng ta mới thấy các vị "tulku" hay "Phật sống", những người đã vượt lẽ tử sinh thường hằng, để quay trở lại là Lạt Ma, là Rinpoche hay Đạt Lai Lạt Ma....

Tần Thủy Hoàng Đế ngày xưa cũng muốn sống mãi như vậy mà không thành. Ông ta phải "sống giả" bằng những lăng mộ thật giả được xây dựng kiên cố và bí hiểm. Ông ta thật ra không biết chết.

Con cháu của ông, giới lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay, cũng lại tiếp tục sự nghiệp cũ khi xâm chiếm và muốn tiêu diệt luôn nền văn minh Tây Tạng. Họ thua kém các Hoàng Đế Nguyên Mông trong cách đối xử với các vị tâm hành giả của nền văn hoá và tôn giáo này.

Chúng ta chưa thể biết được là các vị cao tăng Tây Tạng, đứng đầu là đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể tái diễn được phép cảm hoá màu nhiệm của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba với các Đại Hãn Mông Cổ hay không. Nhưng, cũng do thảm kịch Tây Tạng mà thế giới bắt đầu biết rõ hơn về các vị "tâm hành gia" Tây Tạng.

Một trong những nhân vật ấy là Lati Rinpoche.

Ngài là thầy dạy học và dạy đạo cho đức Đạt Lai Lạt Ma năm xưa và nay vẫn là một cố vấn về giáo lý và lý luận Phật học cho vị lãnh tụ Tây Tạng. Ngài là hoá thân - Rinpoche - của một đại cao tăng và là một kho báu của dân tộc Tây Tạng. Ngài cũng đã giới thiệu hay giải thích cho nhân thế những kiến giải của mình về cái chết, về cõi tạm và sự tái sinh trong cuốn Death, Intermediate Sate and Rebirth do nhà Snow Lion xuất bản năm 1985 tại New York.

Bài này được viết như một lời tạ ơn của tác giả khi Đại lão Hoà thượng Lati Rinpoche phái các đệ tử thay mặt Ngài tổ chức dạ tiệc khoản đãi riêng một số Phật tử từ California qua Dharamsala dự khoá thuyết pháp năm nay của đức Đạt Lai Lạt Ma. Thời điểm là tối Thứ Năm mùng tám tháng Ba. Nơi tổ chức là nhà hàng Chonor House do Phật tử Richard Gere thành lập cheo leo trên một con dốc nhìn qua đỉnh núi tuyết!

Đây là biến cố làm mọi người chưng hửng vì chưa từng có bao giờ!

Trong một bài khác, biết đâu tác giả chẳng có duyên may viết tiếp về vị tâm hành gia này"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.