Hôm nay,  

Trở Về Khủng Bố

07/10/200500:00:00(Xem: 6116)
- Tổng thống Bush vừa đọc bài diễn văn mạch lạc nhất của ông về cuộc chiến chống Hồi giáo quá khích, nhưng còn kịp thuyết phục chăng"
Đáng lẽ, ông phải nói như vậy từ… hai năm trước.
Tổng thống George W. Bush chưa thất bại, nhưng dù có bị oan, ông đang mấp mé bờ vực.
Dư luận Hoa Kỳ chưa thấy có tiến triển gì tại Iraq nên đa số nghi ngờ lý do tham chiến. Ba năm trước, cả nước nức lòng ủng hộ việc ấy - kể cả các lãnh tụ Dân chủ. Ngày nay, đa số hoài nghi và ông Bush mất hậu thuẫn quần chúng, tỷ lệ tín nhiệm sụt tới mức 40%. Tỷ lệ này không có nghĩa là ông thất bại, hoặc bị tê liệt đến độ không lãnh đạo được nữa, hầu tiến hành những việc cần thiết khác cho quốc dân.
Thế rồi, vì chểnh mảng hay chủ quan, ông phạm lỗi lầm là không lập tức phản ứng với Bão lụt Katrina. Ông không hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi chuyện nhưng dù có bị oan, ông vẫn gây ấn tưởng là người kém khả năng lãnh đạo. Tỷ lệ tín nhiệm ông sụt dưới 40% và chưa có hướng ngoi lên khỏi cái mức sinh tử ấy.
Khi bị đẩy xuống mức này, các tổng thống đều lui về hậu cứ sau cùng là những người nhất quyết ủng hộ mình, và đối phương được cơ hội tranh thủ thành phần ôn hòa trung dung ở giữa. Từ hậu cứ ấy, tổng thống bị nạn có thể phản công bằng một số đề nghị ngoạn mục, hấp dẫn.
Ông Bush không làm như vậy. Vì bị khiển trách - dù là oan, xin nhắc lại - vì vụ Katrina, ông rộng tay tung ra kế hoạch tái thiết với nhiều khoản chi mà chính ông nói là vô hạn. Điều ấy có thể thuyết phục được một số dư luận, nhưng lại gây vấn đề trong thành phần xưa nay vẫn ủng hộ ông. Họ không hài lòng với việc phóng tay chi tiền như vậy và nêu vấn đề là vì sao không giảm chi ở các khoản phù phiếm vô ích khác trong ngân sách"
Vào đúng lúc ấy - khi thiên tai và xăng dầu lên giá làm tỷ lệ tin tưởng của giới tiêu thụ sụt đến mức thấp nhất từ nhiều năm nay - Tổng thống Bush lại có một quyết định như khiêu khích một số quần chúng chung thủy của ông: việc chỉ định Luật sư Harriet Miers vào ghế thẩm phán Tối cao Pháp viện lập tức gặp phản ứng chống đối. Thành phần trung thành với ông, hậu cứ sau cùng giúp ông có thể phản công đã bị vỡ đôi. Nhiều Nghị sĩ Cộng hòa có tư thế tại Thượng viện tỏ vẻ dè dặt. Trong khi xu hướng thủ cựu xã hội hoặc sùng đạo thì ủng hộ ứng viên Miers chỉ vì bà là người ngoan đạo thì nhiều xu hướng khác nặng lời bày tỏ sự thất vọng của họ không về Miers mà về chính ông Bush.
Đây là một sai lầm của Tổng thống khi đảng Cộng hòa đang bị tai tiếng, đúng hay sai chưa rõ, về nhiều chuyện khác (Tom DeLay, Bill Frist, Karl Rove, v.v…) Những nhiễu âm chính trị ấy khiến dư luận có thể bỏ qua hoặc đánh giá sai bài diễn văn ông đọc sáng Thứ Năm mùng sáu tại tổ chức phát huy dân chủ National Endowment for Democracy.
Đây là bài diễn văn hùng hồn - điều dễ viết - và mạch lạc - điều hiếm hoi từ chính quyền của ông Bush - về cuộc chiến chống khủng bố. Có lẽ, đây là lần đầu tiên mà Tổng thống Mỹ giải thích rõ ràng về bản chất cuộc chiến, về kẻ thù, về mối liên hệ giữa khủng bố, "thánh chiến Hồi giáo", Afghanistan và Iraq. Ông ra khỏi cái khuôn lười biếng về ngôn từ khi cứ nói rằng Hoa Kỳ đang lãnh đạo "cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu". Khủng bố chỉ là phương pháp mà thôi, cứ nói như vậy là chưa xác định bản chất cuộc chiến và càng không chứng minh được mối liên hệ giữa cuộc chiến ấy với chiến dịch Iraq, với việc ủng hộ Iraq xây dựng nền móng dân chủ. Trong một kỳ khác, chúng ta sẽ phân tách lại bài diễn văn hơn bốn ngàn chữ này và đối chiếu với tình hình chiến sự ở toàn cầu.

Ở đây, chỉ xin nói là đáng lẽ, ông Bush phải giải thích như vậy từ hai năm trước, và chính quyền của ông phải thường xuyên nhắc lại mỗi tuần, mỗi ngày, thì may ra dư luận Mỹ có thể hiểu được.
Ông để quá trễ, vào lúc dư luận sai lầm chú ý đến chuyện khác, nên bài diễn văn khó gây tiếng vang. Phản ứng duy nhất và sớm nhất là từ phía đảng Dân chủ. Họ vẫn chưa nhìn ra mối quan hệ giữa al-Qaeda, khủng bố và Iraq nên chê bài diễn văn và chỉ hỏi một câu: "bao giờ ra khỏi Iraq"" - đúng như al-Qaeda, Osama bin Laden và quân khủng bố mong đợi.
Tại chỗ, ngay tại New York, nhà chức trách vừa báo động chiều Thứ Năm là khủng bố có thể tấn công hệ thống chuyên chở công cộng, nhất là mạng lưới xe điện ngầm.
Tại chỗ, tại Iraq, thủ lãnh tự phong là của al Qaeda tại đây, al-Zarqawi, vừa bật ra tín hiệu là có thể sẽ rút khỏi Iraq.
Các đặc công khủng bố sẽ rút khỏi Iraq đi phá hoại nơi khác, hay bản thân al-Zarqawi sẽ rút để khỏi bị tiêu diệt" Tại chỗ, Liên quân đã giáng nhiều đòn khốc liệt vào các cơ sở khủng bố, phải chăng vì vậy mà al-Zarqawi mới tính đến chuyện "di tản chiến thuật"" Từ Iraq đi ra, sau khi tiếp nhận nhiều kinh nghiệm về khủng bố và nhiều kỹ thuật chế tạo bom, các tay đặc công của al-Zarqawi có thể sẽ áp dụng ở các xứ khác, gần nhất là Saudi Arabia hay Egypt. Không phải Iraq đã gây ra phong trào khủng bố mà chỉ là tụ điểm cho khủng bố tập trung và bị tiêu diệt, thay vì có thể ra tay ở các nơi khác. Al-Qaeda đã bị nhiều tổn thất, bốn lần dự tính tấn công Hoa Kỳ đều bị an ninh Mỹ bẻ gãy, Osama bin Laden không biết còn sống hay chết, mạng lưới có khi vỡ bung, để trở thành một phong trào, phân tán mỏng trong những nhóm nhỏ, vẫn còn khả năng tấn công, nhưng lẻ tẻ và kém công hiệu. Người ta có thấy điều ấy tại London, hôm mùng bảy rồi 21 tháng Bảy, và tại Bali vào tối Thứ Bảy vừa qua….
Ngần ấy tin tức và biến cố cho thấy là Hoa Kỳ không thua trong trận chiến chống lại các lực lượng Hồi giáo quá khích toàn cầu và dù có hay không có Iraq, trận chiến này vẫn là một thách đố sinh tử cho nước Mỹ, vượt ra khỏi những tính toán chính trị trong chính trường Mỹ.
Nếu giải thích những lý do tham chiến cho rõ ràng hơn, chính quyền của ông Bush có thể giúp cho dân chúng hiểu được cách lượng định thắng bại trong cuộc chiến, và nhất là hiểu được vì sao phải vào Iraq.
Ông Bush chỉ giải thích điều ấy vào Thứ Năm mùng sáu tháng Mười, khi dư luận chẳng cần chú ý đến al-Qaeda mà chỉ hỏi là bao giờ sẽ rút khỏi Iraq, trong khi giới chính trị tới tấp tấn công ông từ cả hai góc tả hữu. Thành phần ủng hộ ông mãnh liệt nhất thì bị ông bỏ rơi trong vụ Harriet Miers. Đâm ra quân khủng bố có thể thắng, ngay tại nước Mỹ, chẳng vì chúng mạnh và vì lãnh đạo Hoa Kỳ quá yếu. Họ sẽ chỉ tỉnh giấc một lần nữa, nếu Hoa Kỳ lại bị một đòn khủng bố.
Trách nhiệm của ông Bush không phải là nhỏ khi chẳng thuyết phục nổi quần chúng về một chuyện sinh tử như vậy cho nước Mỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.