Hôm nay,  

Điều Tra Tham Nhũng

02/12/200500:00:00(Xem: 6601)
- Ngay sau khi các đại biểu quốc hội CSVN thông qua luật phòng, chống tham nhũng cũng như luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hôm 28 tháng 11, ông Nguyễn Văn An, chủ tịch quốc hội đã phát biểu rằng: tham nhũng và lãng phí là hai vấn để bức nhức trong đời sống xã hội. Luật có rồi nhưng sự băng khoăn và câu hỏi đặt ra là, chúng ta quyết tâm thực hiện tới đâu" Ông An đã gọi tham nhũng và lãng phí là 'giặc nội xâm' của đảng CSVN hiện nay.

Rõ ràng là qua phát biểu của ông An, nhân vật đứng hàng thứ tư trong bộ máy quyền lực của đảng Cộng sản Việt Nam cho người ta thấy hiện tượng 'vừa làm vừa run' của lãnh đạo Hà Nội trong trận giặc nội xâm của họ. Ông An nói rằng, Hà Nội đã mất gần 9 năm nghiên cứu, điều tra và đúc kết những ý kiến hầu soạn ra bộ luật phòng, chống tham nhũng; nhưng sau khi thông qua thành luật, nhiều người đã nêu lên mối lo kế tiếp là liệu 'có dám hành động thật hay không"" Nói cách khác, ông An và nhiều giới lãnh đạo Hà Nội đã nghi ngờ về kết quả điều tra và cách phòng, chống tham nhũng hiện nay.

Có thể những phát biểu của ông An bắt nguồn từ một bản báo cáo điều tra tham nhũng của ban nội chính trung ương đảng CSVN do cơ quan SIDA của Thụy Điển bảo trợ, về tình trạng tham nhũng tại Viêt Nam hiện nay, trong đó tình trạng nhũng nhiễu, hối lộ ở cán bộ, công chức lên mức báo động.

Theo bản điều tra này, ban nội chính trung ương đảng đã sắp thứ hạng tham nhũng là những cơ quan: tài chánh, thuế, xây dựng, cấp giấy phép xây cất, y tế, đầu tư, giao thông và công an kinh tế.

Đa số các hành vi tham nhũng tập trung vào ba vụ việc cơ bản:

1/Sử dụng phương tiện của quốc gia phục vụ vào nhu cầu riêng của cá nhân và gia đình.

2/Người có chức quyền cố tình làm khó khăn khi giải quyết công việc để đòi chi tiền hay quá biếu.

3/Can thiệp cho người thân trong gia đình để mưu lợi riêng. Nếu chỉ là những hành vi tham nhũng vừa đề cập, có lẽ Hà Nội đã không cần đến 9 năm để nghiên cứu ra một bộ luật phòng, chống tham nhũng mà chỉ cần 1 hay 2 pháp lệnh của chính phủ là đủ. Những hành vi này khá phổ biến trong các cơ quan công quyền ở mọi quốc gia, khi tình trạng đạo đức của cán bộ, công chức các ngành bị suy thoái, do sự lãnh đạo và điều hành quá tồi tệ của những người đứng đầu trong bộ máy chính quyền.

Tình trạng tham nhũng tại Việt Nam trở nên trầm trọng vì hai nguyên nhân căn bản sau đây:

-Thứ nhất là quyền lực của đảng và bộ máy nhà nước phân tán trong tay những phe nhóm, đứng đầu bởi những 'thái thượng hoàng' trong các ban, ngành mà phe, nhóm này đã khống chế trong nhiều năm dài. Đối với họ, quyền lợi phe nhóm cao hơn quyền lợi của đảng; nhưng vì nhu cầu bảo vệ quyền và lợi của từng phe, nên các 'thái thượng hoàng' vẫn cố đi đêm hoặc tránh nhé những xung đột lớn có thể làm bể đảng. Khi các phe ăn chia quá lố tạo ra một số bức xức xã hội thì các phe thường phải hy sinh một vài đàn em như là những 'con dê tế thần',để trấn an xã hội rằng đảng đã ra tay diệt tham nhũng. Những phe nhóm này thi đua nhau bòn rút tài nguyên, tiền bạc của quốc gia một cách vô tội vạ, với sự ra đời của những nhà tư bản đỏ sống một cuộc đời phè phỡn trong một xã hội nghèo đói, lạc hậu triền miên.

-Thứ hai là bộ máy quan liêu đi cùng với sự toàn trị của đảng đã tạo ra tình trạng 'cha chung không ai khóc'. Chính vì thế mà mặc dù không nằm trong các phe nhóm để ăn chia với nhau, nhiều cán bộ, công chức vẫn dùng một số 'quyền hành' có được trong cơ quan của mình để nhũng nhiễu quần chúng. Đây là hình ảnh phổ biến nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay với tình trạng tham ô, cửa quyền ở mọi cơ chế, và ở mọi nơi. Những loại tham ô này không lớn như trên nhưng nó làm soi mòn sinh lực xã hội và tê liệt bộ máy hành chánh. Hiện tượng này tạo ra cái mà ông An gọi là 'giặc nội xâm' trong đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam.

Trong hai nguyên nhân này, theo bản điều tra của ban nội chính trung ương thì chính tình trạng bè phái trong thể chế toàn trị đã khuyến khích nạn tham nhũng phát triển dưới hai dạng tập thể và cá nhân. Đó là ở những nơi nhũng nhiễu lấy tiền của dân phổ biến hơn thì tỷ lệ cho hành vi cá nhân cao nhất, còn ở những vụ lớn, dễ lộ như đất đai (Vụ Đồ Sơn, vụ Đảo Phú Quốc) thì tham nhũng lại thường mang tính tập thể. Điều này đã phản ảnh qua câu nói của Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thư CSVN khi phát động chiến dịch chống tham nhũng vào năm 1998 rằng:'Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế và con người". Nếu nhận xét của ông Phiêu là đúng thì mối lo sợ của ông An rằng "luật có rồi, nhưng dám hành động hay không" quả là một thách đố cho Hà Nội.

Sự kiện ban nội chính trung ương đi điều tra hiện tượng tham nhũng và tổ chức họp báo công bố bản kết quả điều tra là một sự kiện lạ. Nhưng theo dõi kỹ về kế hoạch điều tra này, người ta mới thấy CSVN quả là gian manh và quỷ quyệt khi chiều lòng quốc tế (cơ quan SIDA của Thụy Điển) để nói lên 'sự hợp tác' chống tham nhũng của chế độ... rồi thôi. Có thể việc điều tra và kết quả này sẽ giúp làm hài lòng một số quốc gia vốn đang lo ngại tình hình tham nhũng để suy xét lại vấn đề đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên hệ quả của cuộc điều tra đã cho thấy, lãnh đạo CSVN bắt đầu lo xa về sự sống còn của họ nếu cứ để cho các phe nhóm tranh nhau tham nhũng như hiện nay. Thật vậy, trong phần cuối của bản điều tra, ban nội chính trung ương đã nêu ra câu hỏi rằng từ nhiều năm qua đã có biết bao pháp lệnh, nghị quyết và chiến dịch chống tham nhũng tung ra... nhưng tại sao vấn đề phòng, chống vẫn còn nhiều hạn chế"

Câu trả lời của đa số là: 'lãnh đạo CSVN đã không dám làm thật sự'.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.