Hôm nay,  

Phước Điền Y

20/12/200500:00:00(Xem: 8487)
-Thời Đức Phật còn tại thế, quốc vương xứ Magadha là vua Bimbisara được Thế Tôn xem như người bạn thân thiết vì nhà vua rất mộ đạo, thường tìm đến vấn kế, làm sao giữ được đất nước thanh bình, dân cư ấm no, an lạc. Thấm nhuần đạo Giác ngộ, vua đem lòng Từ Bi thương dân như hoàng tộc, mùa đông mở kho phát áo, mùa hạn phát lúa ngô, nhà nhà đều sống trong thuận hòa, hạnh phúc. Vua Bimbisara cũng có với mệnh phụ Ambapali một người con trai thông minh đĩnh ngộ. Đó là thái tử Jivaka. Vì chứng kiến nhiều người bị khổ đau về bệnh tật nên thái tử theo học ngành thuốc, mong khi thành tài sẽ cứu giúp người bệnh khổ.

Một đôi lần, khi Đức Phật thuyết pháp những vùng lân cận, thái tử lại được theo mẹ tới đảnh lễ Đức thế Tôn. Chỉ ngay lần đầu được diện kiến Đức Phật, thái tử Jivaka đã hoàn toàn bị nhiếp phục bởi oai nghi tế hạnh trên từng bước đi thong dong, dáng ngồi an lạc, lời nói nhu hòa chan chứa từ bi, trí tuệ. Thái tử tự nhủ lòng, sau khi trở thành y-sỹ sẽ xin quy y, theo bước chân tăng đoàn mà chăm sóc sức khỏe cho hàng môn đồ tứ chúng ngày càng đông đảo.

Một mùa đông khi Đức Phật giảng pháp trên núi Linh Thứu, thái tử nhận thấy ai cũng co ro run rẩy vì không đủ áo ấm. Tình trạng này rất dễ mắc bệnh cảm hàn và sưng phổi. Thái tử Jivaka bèn về cổ động bạn bè vốn là các công tử giòng giõi quý tộc giầu sang, hãy phát tâm tặng thêm y áo cho tăng đoàn được đủ ấm khi tiết trời lạnh giá.

Việc chính thức cúng dường y áo cho các tu sỹ bắt đầu từ đó, thay vì trước kia đại chúng chỉ thuần cúng dường thực phẩm.

Một lần, Đức Phật cùng Đại Đức Ananda đứng trên đồi cao nhìn xuống những thửa ruộng phía dưới. Đức Phật bảo:

- Này Ananda, hãy nhìn xem, những thửa ruộng đầy lúa chín vàng san sát bên nhau mới đẹp làm sao! Đất ruộng đó hẳn phải là đất mầu phì nhiêu và hạt mầm gieo xuống cũng phải là hạt tốt mới đem lại kết quả đẹp đẽ kia. Này Ananda, thầy có nghĩ rằng y của tăng đoàn nếu may theo mẫu đất ruộng này, khi khoác y lên sẽ là lời nhắc nhở người xuất gia giữ thân tâm thanh tịnh như đất mầu, tinh tấn tu học như gieo hạt tốt, tất, sẽ gặt hái thành quả như đồng lúa chín vàng kia"

Đại Đức Ananda chắp tay thưa:

- Thế Tôn dạy chí phải. Con xin thỉnh ý Thế Tôn, họp các huynh đệ rồi truyền xuống đại chúng để từ nay ai phát tâm cúng dường y áo cho các tỳ-kheo thì hãy may theo mẫu như những thửa ruộng liền nhau. Bạch Thế Tôn, chiếc y đẹp đẽ mang ý nghĩa thâm sâu này có thể được gọi là ....

Đại Đức ngập ngừng chờ đợi thì Đức Phật mỉm cười, nhẹ nhàng tiếp lời:

- Sanghati may theo mô hình các thửa ruộng có thể gọi là phước-điền-y, để không chỉ nhắc nhở ý nghĩa trên hình thức mà còn phải luôn tâm nguyện tạo phước duyên cho người.

Chiếc phước-điền-y đơn sơ khởi từ gần 2600 năm trước, với thời gian có lẽ cũng thay đổi phần nào cho phù hợp với môi trường sinh hoạt từng thời đại nhưng những nét chính vẫn giữ nguyên, nhất là ý nghĩa ẩn dụ sau tấm y mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy thì không gì chối bỏ được. Vị tu sỹ chân chính đã khoác phước- điền-y trên thân là đã tròn đạo hạnh, chỉ một tâm nguyện theo bước Cha Lành. Để có thể dũng mãnh tiến bước, người cha đã trao cho các con những chiếc chìa khóa vàng, giúp các con tạo được và giữ được năng lực. Một trong những chìa khóa đó là Bát Chánh Đạo, tám món quà đẹp đẽ. Đức Phật dạy:

- Phải trực diện khổ đau mới có thể dứt trừ được khổ đau để tiến tới giải thoát. Muốn tạo cho mình năng lực để trực diện khổ đau phải nghiêm túc tri hành Bát Chánh Đao. Đó là: nhận thức chân chính, tư duy chân chính, ngôn ngữ chân chính, hành động chân chính, sinh kế chân chính, chuyên cần chân chính, niệm lực chân chính và định lực chân chính.

Hàng Phật tử tuân lời Phật dạy mong cầu giải thoát cũng đã là những người đáng kính mến, huống chi những vị cắt ái ly gia, quyết tự độ rồi độ tha, không phải chỉ mong đạt quả vị Thanh Văn, Duyên Giác mà còn phát Đại Nguyện, hành Bồ Tát Hạnh, xả thân phụng sự chúng sinh, hộ trì đạo pháp, luôn nói lời chân thật dù sinh mạng nguy nan.

Thuở xưa, Tôn-giả Shantiveda (Tịch Thiên), tác giả bộ đại luận Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) đã viết:

Tôi đâu cần nói gì thêm"

Người ấu trĩ làm việc lợi cho mình

Phật làm việc có ích cho người khác

Hãy nhìn vào sự khác biệt đó

Nếu tôi không đổi hạnh phúc của tôi

Lấy sự đau khổ của người khác

Tôi sẽ không đạt tới quả vị Phật

Và ngay trong cõi ta-bà, tôi sẽ không vui

Cội rễ của mọi khổ đau trên thế giới

Nằm trong các ý nghĩ về “Tôi”

Nguồn gốc tất cả các hạnh phúc

Là ý nghĩ hướng về “Người” (*)

Dù ở bất cứ chân trời nào, người đã chọn Bồ-Tát-Đạo chỉ có một con đường mà thôi. Đã khoác phước-điền-y trên thân bằng tâm nguyện chân thật, vị ấy sẽ không bao giờ thối chuyển dù trước sức mạnh nào.

Buổi sáng ngày 19 tháng 11 năm 2005, khi Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN bước xuống thang gác Thanh Minh Thiền Viện để đi lo Phật sự, làm chủ lễ giỗ Tổ Nguyên Thiều, thì bị khoảng 50 nam nữ công an thành phố, tuân hành lệnh nhà nước Cộng Sản Việt Nam, ngăn chặn không cho đi với lý do mơ hồ:

- Hôm nay HT phải lên quận làm việc chứ không được đi đâu khác!

Đại lão Hòa Thượng đã nhỏ nhẹ mà nói rằng:

- Hôm nay là ngày giỗ Tổ Nguyên Thiều tại chùa Giác Hoa, chúng tôi phải lo việc tôn giáo, tín ngưỡng trước. Việc lên quận xin để hôm sau.

Lời ôn hòa đó được đáp lại bằng cuộc giằng co, xô đẩy thô bạo; và trước sự chứng kiến sửng sốt của rất đông dân chúng hai bên đường, phước-điền-y đắp trên thân lão Hòa Thượng đã bị đám nam nữ công an xé rách toạc !!!!!!

Cộng Sản Việt Nam đã từng đem cha mẹ, thầy cô ra đấu tố đến chết (Trường Chinh đấu tố cha để làm gương!!!)

Cộng Sản Việt Nam đã từng dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng.

Cộng Sản Việt Nam đã tàn phá nhà thờ, đình chùa, lăng miếu, giam cầm, bức tử những tu sỹ - bất kể tôn giáo nào - dám đi ngược lại đường lối Đảng.

Nay, ngang nhiên xé rách chiếc y tượng trưng đạo pháp trên thân một trưởng tử Như-Lai, liệu CSVN đã đủ lộ rõ bản chất “tam vô”: vô gia đình, vô Tổ Quốc, vô Tôn giáo hay chưa"

Diệu Trân

(Mùa pháp nạn 2005)

(*)Ý thơ: Tôn giả Tịch Thiên -- Việt dịch: Chân Huyền

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.