Hôm nay,  

Người Vận Động Hòa Bình

10/05/200200:00:00(Xem: 4674)
Tạp chí Christian Science Monitor ra ngày 7-4-2002 vừa đăng bài của nữ ký giả Samar Farah dưới tựa đề "An Advocate For Peace Start With Listening" tường trình buổi thuyết giảng của Thiền Sư Nhất Hạnh tại Hynes Convention Center thuộc thành phố Cambridge ngày 4 April 2002.

Để quý bạn đọc báo Việt ngữ biết qua về cái nhìn của một ký giả ngoại quốc theo đạo Tin Lành nhận xét về một vị Thiền Sư Phật giáo, chúng tôi xin lược dịch bài báo của bà Samar Farah để cống hiến chư vị độc giả:

"Ngày 4-4-2002, Thích Nhất Hạnh, vị Thiền Sư Việt Nam đã làm tôi dồn hết tâm trí lắng nghe buổi thuyết giảng của ông với khoảng 3,000 người tham dự. Những lời nói của Thầy đơn sơ nhưng được chọn lọc rất kỷ lưỡng, mỗi cử động của bàn tay ông hình như đều được xếp đặt một cách thích đáng.

Khi Thầy nói về hòa bình, tất cả mọi người gồm đủ mọi tôn giáo và mọi tầng lớp đều lắng nghe một cách chăm chú. Gần 3 tiếng đồng hồ, Thích Nhất Hạnh nói về sự sợ hãi, nóng giận và hận thù. Trước sự lo âu của đám đông sau ngày 9-11, Thầy khuyên người Mỹ đừng để cho báo chí "tưới tẩm hạt giống sợ hãi". Thầy cũng kêu gọi chính phủ Mỹ hãy hành động như một người anh lớn, làm gương cho những quốc gia khác.

Cái kết quả những lời nói sáng suốt của thầy Nhất Hạnh đến vào phút cuối, khi Thầy mời mọi người đặt câu hỏi. Một người đàn bà đã lên bục giảng kể rằng, bà bị mất một người chị trong World Trade Center, nhưng bà không oán giận. Bà muốn mọi người biết như vâïy.

Thích Nhất Hạnh không xa lạ gì với việc đi tìm kiếm hòa bình. Thầy là người dẫn đầu phong trào "Đạo Phật đi vào cuộc đời", một Pháp môn của Phật Giáo đề cao tinh thần bất bạo động. Thầy cũng là người lập ra nhóm Thiện Nguyện để giúp đỡ những người bị chiến tranh ảnh hưởng tại các ngôi làng xa xôi ( tức "Đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội", ghi chú của TTAC). Năm 1966, Thích Nhất Hạnh bị lưu đày ra khỏi quê hương về tội chống chiến tranh. Sau đó, Thầy đã đi khắp thế giới để kêu gọi hòa bình. Trong giai đoạn nầy, Thích Nhất Hạnh đã nhiều lần đến Mỹ và cũng chính vì quá trình hoạt động nầy mà Thầy được Mục Sư Martin Luther Kinh đề cử giải Nobel Hòa Bình. Năm 1982, Thầy thành lập Làng Mai, một Tu Viện ở miền tây nam nước Pháp. Tiếp theo, thầy thành lập một chi nhánh tại Vermont và một ở California.

Chính quyền Việt Nam hiện tại chưa cho phép Thích Nhất Hạnh về nước. Thầy chia xẻ thời gian sinh hoạt ở Làng Mai (Pháp), Rừng Phong (Vermont) và Lộc Uyển (California). Thầy cũng là một nhà thi sĩ, văn sĩ và là nhà Triết học. Tựa đề cuốn sách mới nhất của Thích Nhất Hạnh là "Anger, Wisdom for Cooling the Flames" được phát hành vào tháng 9 năm vừa qua.

Căn bản về hòa bình của Thích Nhất Hạnh là lắng nghe với tất cả lòng từ bi. Dù giữa đôi vợ chồng đang tranh cãi hoặc giữa những quốc gia đang lâm chiến. Có thể có một số người nghĩ rằng nguyên tắc lắng nghe của ông không có ích lợi, vì khó thực hiện. Nhưng thật ra, những điều đó có thể áp dụng trong đời sống hằng ngày. Mùa hè nằm vừa qua, Thầy đã mời một nhóm khoảng 15 người Do Thái và Palestine đến Làng Mai trong một phong cách rất Thiền, không có một chương trình nào sắp đặt trước cả.

"Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng tôi không làm gì cả". Thầy nói, từ từ, một sự hòa hợp đã lan tràn ra giữa những người khách đặc biệt nầy. Một phụ nữ Do Thái trong đoàn đã biểu lộ cảm tưởng: "Đây là lần đầu tiên tôi tin rằng Hòa Bình có thể đạt được ở Trung Đông". Sau biến cố 9-11, nhóm thứ hai đã đến Làng Mai tu tập, và nhóm thứ ba dự định sẽ đến Làng Mai vào mùa hè năm nay.

Thích Nhất Hạnh nói: "Sự thử thách lớn nhất của chúng tôi là giúp những người ở những nơi mà thường chỉ biết có sự bạo động "nếm được một cái khác". Chúng ta phải tạo ra một môi trường mới để cho mọi người có thể nhận thấy họ cũng đều là con người cả và ai cũng muốn có hòa bình. Rồi Thầy kết luận: "TÂM BÌNH THẾ GIỚI BÌNH" (PEACE WITHIN, PEACE IN THE WORLD)."

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.