Hôm nay,  

Ăn Tết Quê Nhà

08/02/200000:00:00(Xem: 6025)
Tôi được hạnh phúc chào đời tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm, miền Bắc Nước Việt Nam thân yêu chúng ta.
Năm 1954, tôi theo bà nội di cư vào miền Nam. Tôi không nhớ một hình ảnh đậm nét nào về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, vì lúc ra đi tôi chỉ là một chú bé 4, 5 tuổi dại khờ.
Lớn lên tại miền đất tự do, tôi đã chia sẻ thân phận “hẩm hiu” của cả dân tộc mình, qua những vận nghiệp nổi trôi, thăng trầm. Sau 4 năm “âm u” sống dưới chế độ mới của XHCN, tháng Năm, 1979, tôi rời đất Mẹ trên một con tầu vượt biên, nhổ neo tại một bờ sông ở Mỹ Tho. Ra đi như thế này là tự chọn chín phần chết và một phần sống. Và tôi đã được Thượng Đế dủ thương cứu thoát, trong bão tố sóng dồn trên biển cả mênh mông hãi hùng.
Tôi an vui trải qua 20 tháng trên mảnh đất tạm dung của quốc gia láng giềng Indonesia, từ đảo hoang Pasirmerah tới Galang — Cửa Ngõ Hòa Bình, rồi được phái đoàn Mỹ gọi đi định cư tại San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, California.

Tháng Chạp năm 1996, tôi về thăm Quê Hương lần đầu tiên. Chuyến trở về mái nhà xưa kéo dài gần 2 tháng đã gây rất nhiều bồi hồi, xúc động trong trái tim tôi, sau 17 năm “ngàn trùng xa cách” các thân nhân, bạn hữu, và đồng bào.
Rồi mảnh đất linh thiêng của Mẹ Việt Nam đã lạ lùng thu hút tôi trở về lần thứ hai, chỉ một năm sau.
Cuộc hành hương này đã đưa tôi viếng thăm Huế “đẹp và thơ”, vào chiều thứ Năm, 22 tháng Giêng, 1998. Đất thần kinh đang nhộn nhịp đón mừng Xuân Mậu Dần, trong khung cảnh nghèo nàn của người dân, và khí hậu se se lạnh dưới trời mưa nhẹ hạt rơi trên những chiếc nón lá “bài thơ” mà trước đây tôi đã đọc trong sách báo, văn chương.

Ba ngày ngắn ngủi lặng lẽ trôi qua...
Sáng sớm Chúa nhật ngày 25 tháng Giêng, cảm động từ giã Cố đô, và các bạn thân, tôi đáp máy bay Hàng Không Việt Nam để ra Bắc, nơi gia đình tôi trong số gần một triệu người khác, đã, từ 44 năm trước, rời bỏ “thiên đường của Bác”, gồng gánh vào Nam, hầu tìm một cuộc sống mới, êm ấm, tự do.
Từ phi trường Phú Bài, chim sắt Việt Nam tha thướt bay lượn hơn một giờ, nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.
Thế là tôi khởi sự chuyến hành hương miền Bắc bằng chặng dừng chân đầu tiên đầy hứng thú, phấn khởi, tại thủ đô “Hà Nội 36 Phố Phường”. Hà Nội “trong trái tim tôi”, nói cách khác, Hà Nội được mọi người mến yêu.
Chiếc xe ô-tô thuê bao cũ kỹ đưa tôi về thẳng Dòng Chúa Cứu Thế ở Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, thoải mái qua 30 cây số đường lộ vừa được xây dựng khá tân kỳ.
Ôi, cả một biển người ở ngoài đường trong ngày kề cận Tết Con Cọp. Mọi người đều vội vã, vất vả, nhất là những kẻ buôn gánh bán bưng.
Dùng cơm tối với chư huynh đệ trong Tu Viện xong, tôi được một sinh viên Học Viện DCCT Sàigòn, gốc ở Bắc, đèo honda dạo phố đêm Hà Thành. Bác tài rành tay lái lượn một vòng lả lướt qua Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm), Quảng trường Ba Đình nơi có Lăng HCM, Văn Miếu Quốc Tử Giám...
Nhưng, chuyến “Hanoi by night” lịch sử bắt buộc phải chấm dứt sớm, vì trời giá lạnh, buốt nhức, thấu đến tận xương tủy. Chạy vội về nhà, tôi “chui” vào mùng ngay, đắp hai chiếc mền, rồi nhắm mắt. Trong suốt đêm thứ nhất này, tôi được thưởng thức cái lạnh ẩm thấp, căm căm, ghê hồn của miền Bắc. Bị cái lạnh quật ngã, tôi phải nằm “bẹp” trọn ngày hôm sau. Đến chiều, trời ấm, tôi bình phục…

Sáng thứ Ba, 27 tháng Giêng, ngày cuối năm Âm lịch, tôi vinh dự được xe riêng Tòa Giám Mục Phát Diệm đến Nhà Dòng đón về quê cha đất tổ “ăn” Tết.
Con đường dài khoảng 130 cây số đưa tôi về nơi “cất tiếng khóc oe-oe” nhỏ hẹp, ổ gà, lồi lõm, ngoằn ngoèo, bụi bặm. Hai bên lộ hiện ra cảnh trí người và vật, quá đỗi nghèo nàn, rách nát, thảm thương, mà trong hơn 4 giờ ngồi trên xe tôi đã chứng kiến tận mắt mình.
Tới Tòa Giám Mục tọa lạc ở phía sau Nhà Thờ Cổ Phát Diệm do Cha Sáu Lục xây dựng đã từ một thế kỷ, tôi được Đức Cha Phó Nguyễn Văn Yến và LM Quản Lý nồng nhiệt đón tiếp người con trở về từ đất khách quê người. Rồi tôi lên thăm Đức Cha Chính Bùi Chu Tạo tại phòng riêng của ngài trên lầu Nhà Chung. Đức Cha thọ 90 tuổi hạc, gầy còm, yếu mệt, sau những năm “gặt lúa” gian khổ trong lòng Chủ Nghĩa Cộng Sản vô thần! Đang nằm nghỉ trên giường gỗ, trải chiếu cói, giăng mùng rất đơn sơ nghèo khó, Đức Cha đã thức dậy, ra bàn ngồi, vui vẻ hỏi chuyện tôi về đời sống của tín hữu CGVN ở hải ngoại. Ngài hạnh phúc vô vàn khi biết tôi là người con của Phát Diệm “tự vệ”, kiên cường, hào hùng...


Buổi chiều, tôi được các em họ đưa về thăm làng mình. Tất cả sự nghèo nàn đã hiện ra trước mắt tôi. Dân quê “cầy sau cuốc bẫm” sống nhờ vào mấy sào ruộng và sông lạch do Cụ Nguyễn Công Trứ thực hiện. Mọi người biết ơn Cụ về công trình dẫn thủy nhập điền này.
Chiều nay là cuối năm, nhưng tôi không thấy bóng dáng “nàng Xuân”.
Ở tại Tòa Giám Mục, tôi đã đón đêm Giao Thừa đến trong buồn thảm. Chuông các nhà thờ chính, các họ lẻ đổ hồi thay cho tiếng pháo nổ truyền thống, để tống cựu nghinh tân, tiễn biệt con trâu và chào mừợng con cọp. Trong thanh vắng của đêm thiêng liêng, uy linh, tôi tâm thành cầu nguyện cho Quê Hương Đất Nước bước vào Năm Mới hạnh phúc, an bình.

MỒNG MỘT TẾT: Sau Thánh Lễ Minh Niên do Đức Cha Phó chủ sự tại Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo hữu, người đi bộ, kẻ đạp xe, trong bộ áo quần đen, nâu, khó nghèo, đơn giản, đã kéo nhau vào chật sân Nhà Chung để chúc tết Đức Cha Chính (đón Xuân trên giường bệnh), Đức Cha Phó, và các Cha trong Tòa Giám Mục, dưới làn mưa phùn và khí hậu lạnh. Tôi xúc động khi chứng kiến tấm lòng hiếu thảo rất đỗi lớn lao của đoàn chiên miền Bắc đối với các Vị Chủ Chăn của mình.
Sau tiệc sáng tân xuân tại Tòa Giám Mục, tôi lên đường đi “xông nhà” gia đình người thím (chú ruột tôi đã tạ thế năm trước). Chung phận nghèo với dân làng, thím và hai người con trú mưa che nắng dưới mái nhà tranh vách đất nhỏ hẹp. Nuôi được một cặp ngan là gia tài đáng kể của gia đình, hôm nay, thím tôi đã cắt tiết một con để làm tiệc Tết khoản đãi cháu mình lần đầu tiên gặp mặt. Thật rung động biết bao trong tâm hồn tôi!
Tuy là ngày Xuân, các trẻ em không có áo mới, không giầy mới. Tiền lì xì các em nhận được chỉ là mấy trăm đồng bạc nhàu nát, dơ bẩn, vừa đủ mua được một cục kẹo, hay một cái bong bóng nhỏ bằng ngón tay út để thổi bằng hơi sức “đói ăn” của mình.

MỒNG HAI TẾT: Không có gì đặc sắc ở quê nghèo. Các cửa hàng và các quán ăn (đặc biệt có quán ghi vỏn vẹn một chữ khá lớn: “CHÓ!” mà ai cũng hiểu) đã mở cửa bán buôn.
Chiều nay xứ Khiết Kỷ — nơi tôi đã được rửa tội lúc còn nhỏ bé như “con chuột” ở trong tay mẹ — được phép công an khu vực long trọng đón rước “Cha Quê Hương” về dâng lễ Tết. Tôi cảm động khó tả khi được các anh chị em cùng sinh ra từ mảnh đất Dục Đức, Kim Sơn khó nghèo này, yêu thương cách hết sức đặc biệt bằng một ban kèn đồng, chiêng trống, hòa nhạc chào mừng lúc tôi tới sân Nhà Thờ. Thánh nhạc còn được trổi vang nhiều lần trong lúc lễ Misa được cử hành.
Nhà Thờ Khiết Kỷ nhỏ hẹp, không đủ chỗ đứng, ngồi, cho bà con tín hữu; các trẻ em phải ngồi dưới chiếu, sát bàn thờ. Mọi người tham dự đều sốt sắng khác thường, và họ lắng nghe “Cha Quê Hương” chia sẻ Phúc Âm. Tôi dùng ngôn ngữ đơn sơ, mộc mạc nhất để đem tín thư của Chúa cho bà con “chân lấm tay bùn”, đa số không được học hành. Kết thúc Thánh Lễ, để ghi nhớ ngày hồng ân, tôi “lì xì” cho khoảng 200 em bé. Mỗi em hoan hỉ nhận 5000 đồng của “Bác”.

MỒNG BA TẾT: Sau Thánh Lễ cầu nguyện cho các Tiên Nhân, tôi tạm biệt Đức Cha Phó, các Cha, các Thầy Giảng, các Dì Phước, và bà con trong Nhà Chung.
Tôi vào phòng Đức Cha Chính để kính chào ngài. Từ giường bệnh, Đức Cha cố gắng đứng dậy cách yếu ớt để ôm hôn tôi, trong tiếng thì thào: “Năm sau cha về thăm Phát Diệm, chắc cha không còn gặp tôi nữa!” Đức Cha trìu mến tiễn tôi ra tới hành lang.
Xe hơi Tòa Giám Mục đang chờ sẵn tôi ở sân Nhà Chung. Xe lăn bánh, tôi rời Phát Diệm thân yêu, trong ánh mắt lưu luyến trông theo, cánh tay ân tình vẫy chào của các bạn, cùng mấy người em và cháu tôi.

Tôi trở về lại Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, và “thưởng thức” chiều Mồng Ba Tết rất ảm đạm của tình cảnh Quê Hương chúng ta thật sự chưa có Mùa Xuân.

* LM. JOSEPH NGUYỄN THANH SƠN, DCCT

(Lược trích tác phẩm “HÀNH HƯƠNG QUÊ MẸ VIỆT NAM”, do nxb Thánh Linh, P.O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728, ấn hành lần thứ ba, tháng Tư, 1999)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.