Hôm nay,  

Ăn Tết Quê Nhà

08/02/200000:00:00(Xem: 5949)
Tôi được hạnh phúc chào đời tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm, miền Bắc Nước Việt Nam thân yêu chúng ta.
Năm 1954, tôi theo bà nội di cư vào miền Nam. Tôi không nhớ một hình ảnh đậm nét nào về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, vì lúc ra đi tôi chỉ là một chú bé 4, 5 tuổi dại khờ.
Lớn lên tại miền đất tự do, tôi đã chia sẻ thân phận “hẩm hiu” của cả dân tộc mình, qua những vận nghiệp nổi trôi, thăng trầm. Sau 4 năm “âm u” sống dưới chế độ mới của XHCN, tháng Năm, 1979, tôi rời đất Mẹ trên một con tầu vượt biên, nhổ neo tại một bờ sông ở Mỹ Tho. Ra đi như thế này là tự chọn chín phần chết và một phần sống. Và tôi đã được Thượng Đế dủ thương cứu thoát, trong bão tố sóng dồn trên biển cả mênh mông hãi hùng.
Tôi an vui trải qua 20 tháng trên mảnh đất tạm dung của quốc gia láng giềng Indonesia, từ đảo hoang Pasirmerah tới Galang — Cửa Ngõ Hòa Bình, rồi được phái đoàn Mỹ gọi đi định cư tại San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, California.

Tháng Chạp năm 1996, tôi về thăm Quê Hương lần đầu tiên. Chuyến trở về mái nhà xưa kéo dài gần 2 tháng đã gây rất nhiều bồi hồi, xúc động trong trái tim tôi, sau 17 năm “ngàn trùng xa cách” các thân nhân, bạn hữu, và đồng bào.
Rồi mảnh đất linh thiêng của Mẹ Việt Nam đã lạ lùng thu hút tôi trở về lần thứ hai, chỉ một năm sau.
Cuộc hành hương này đã đưa tôi viếng thăm Huế “đẹp và thơ”, vào chiều thứ Năm, 22 tháng Giêng, 1998. Đất thần kinh đang nhộn nhịp đón mừng Xuân Mậu Dần, trong khung cảnh nghèo nàn của người dân, và khí hậu se se lạnh dưới trời mưa nhẹ hạt rơi trên những chiếc nón lá “bài thơ” mà trước đây tôi đã đọc trong sách báo, văn chương.

Ba ngày ngắn ngủi lặng lẽ trôi qua...
Sáng sớm Chúa nhật ngày 25 tháng Giêng, cảm động từ giã Cố đô, và các bạn thân, tôi đáp máy bay Hàng Không Việt Nam để ra Bắc, nơi gia đình tôi trong số gần một triệu người khác, đã, từ 44 năm trước, rời bỏ “thiên đường của Bác”, gồng gánh vào Nam, hầu tìm một cuộc sống mới, êm ấm, tự do.
Từ phi trường Phú Bài, chim sắt Việt Nam tha thướt bay lượn hơn một giờ, nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.
Thế là tôi khởi sự chuyến hành hương miền Bắc bằng chặng dừng chân đầu tiên đầy hứng thú, phấn khởi, tại thủ đô “Hà Nội 36 Phố Phường”. Hà Nội “trong trái tim tôi”, nói cách khác, Hà Nội được mọi người mến yêu.
Chiếc xe ô-tô thuê bao cũ kỹ đưa tôi về thẳng Dòng Chúa Cứu Thế ở Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, thoải mái qua 30 cây số đường lộ vừa được xây dựng khá tân kỳ.
Ôi, cả một biển người ở ngoài đường trong ngày kề cận Tết Con Cọp. Mọi người đều vội vã, vất vả, nhất là những kẻ buôn gánh bán bưng.
Dùng cơm tối với chư huynh đệ trong Tu Viện xong, tôi được một sinh viên Học Viện DCCT Sàigòn, gốc ở Bắc, đèo honda dạo phố đêm Hà Thành. Bác tài rành tay lái lượn một vòng lả lướt qua Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm), Quảng trường Ba Đình nơi có Lăng HCM, Văn Miếu Quốc Tử Giám...
Nhưng, chuyến “Hanoi by night” lịch sử bắt buộc phải chấm dứt sớm, vì trời giá lạnh, buốt nhức, thấu đến tận xương tủy. Chạy vội về nhà, tôi “chui” vào mùng ngay, đắp hai chiếc mền, rồi nhắm mắt. Trong suốt đêm thứ nhất này, tôi được thưởng thức cái lạnh ẩm thấp, căm căm, ghê hồn của miền Bắc. Bị cái lạnh quật ngã, tôi phải nằm “bẹp” trọn ngày hôm sau. Đến chiều, trời ấm, tôi bình phục…

Sáng thứ Ba, 27 tháng Giêng, ngày cuối năm Âm lịch, tôi vinh dự được xe riêng Tòa Giám Mục Phát Diệm đến Nhà Dòng đón về quê cha đất tổ “ăn” Tết.
Con đường dài khoảng 130 cây số đưa tôi về nơi “cất tiếng khóc oe-oe” nhỏ hẹp, ổ gà, lồi lõm, ngoằn ngoèo, bụi bặm. Hai bên lộ hiện ra cảnh trí người và vật, quá đỗi nghèo nàn, rách nát, thảm thương, mà trong hơn 4 giờ ngồi trên xe tôi đã chứng kiến tận mắt mình.
Tới Tòa Giám Mục tọa lạc ở phía sau Nhà Thờ Cổ Phát Diệm do Cha Sáu Lục xây dựng đã từ một thế kỷ, tôi được Đức Cha Phó Nguyễn Văn Yến và LM Quản Lý nồng nhiệt đón tiếp người con trở về từ đất khách quê người. Rồi tôi lên thăm Đức Cha Chính Bùi Chu Tạo tại phòng riêng của ngài trên lầu Nhà Chung. Đức Cha thọ 90 tuổi hạc, gầy còm, yếu mệt, sau những năm “gặt lúa” gian khổ trong lòng Chủ Nghĩa Cộng Sản vô thần! Đang nằm nghỉ trên giường gỗ, trải chiếu cói, giăng mùng rất đơn sơ nghèo khó, Đức Cha đã thức dậy, ra bàn ngồi, vui vẻ hỏi chuyện tôi về đời sống của tín hữu CGVN ở hải ngoại. Ngài hạnh phúc vô vàn khi biết tôi là người con của Phát Diệm “tự vệ”, kiên cường, hào hùng...


Buổi chiều, tôi được các em họ đưa về thăm làng mình. Tất cả sự nghèo nàn đã hiện ra trước mắt tôi. Dân quê “cầy sau cuốc bẫm” sống nhờ vào mấy sào ruộng và sông lạch do Cụ Nguyễn Công Trứ thực hiện. Mọi người biết ơn Cụ về công trình dẫn thủy nhập điền này.
Chiều nay là cuối năm, nhưng tôi không thấy bóng dáng “nàng Xuân”.
Ở tại Tòa Giám Mục, tôi đã đón đêm Giao Thừa đến trong buồn thảm. Chuông các nhà thờ chính, các họ lẻ đổ hồi thay cho tiếng pháo nổ truyền thống, để tống cựu nghinh tân, tiễn biệt con trâu và chào mừợng con cọp. Trong thanh vắng của đêm thiêng liêng, uy linh, tôi tâm thành cầu nguyện cho Quê Hương Đất Nước bước vào Năm Mới hạnh phúc, an bình.

MỒNG MỘT TẾT: Sau Thánh Lễ Minh Niên do Đức Cha Phó chủ sự tại Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo hữu, người đi bộ, kẻ đạp xe, trong bộ áo quần đen, nâu, khó nghèo, đơn giản, đã kéo nhau vào chật sân Nhà Chung để chúc tết Đức Cha Chính (đón Xuân trên giường bệnh), Đức Cha Phó, và các Cha trong Tòa Giám Mục, dưới làn mưa phùn và khí hậu lạnh. Tôi xúc động khi chứng kiến tấm lòng hiếu thảo rất đỗi lớn lao của đoàn chiên miền Bắc đối với các Vị Chủ Chăn của mình.
Sau tiệc sáng tân xuân tại Tòa Giám Mục, tôi lên đường đi “xông nhà” gia đình người thím (chú ruột tôi đã tạ thế năm trước). Chung phận nghèo với dân làng, thím và hai người con trú mưa che nắng dưới mái nhà tranh vách đất nhỏ hẹp. Nuôi được một cặp ngan là gia tài đáng kể của gia đình, hôm nay, thím tôi đã cắt tiết một con để làm tiệc Tết khoản đãi cháu mình lần đầu tiên gặp mặt. Thật rung động biết bao trong tâm hồn tôi!
Tuy là ngày Xuân, các trẻ em không có áo mới, không giầy mới. Tiền lì xì các em nhận được chỉ là mấy trăm đồng bạc nhàu nát, dơ bẩn, vừa đủ mua được một cục kẹo, hay một cái bong bóng nhỏ bằng ngón tay út để thổi bằng hơi sức “đói ăn” của mình.

MỒNG HAI TẾT: Không có gì đặc sắc ở quê nghèo. Các cửa hàng và các quán ăn (đặc biệt có quán ghi vỏn vẹn một chữ khá lớn: “CHÓ!” mà ai cũng hiểu) đã mở cửa bán buôn.
Chiều nay xứ Khiết Kỷ — nơi tôi đã được rửa tội lúc còn nhỏ bé như “con chuột” ở trong tay mẹ — được phép công an khu vực long trọng đón rước “Cha Quê Hương” về dâng lễ Tết. Tôi cảm động khó tả khi được các anh chị em cùng sinh ra từ mảnh đất Dục Đức, Kim Sơn khó nghèo này, yêu thương cách hết sức đặc biệt bằng một ban kèn đồng, chiêng trống, hòa nhạc chào mừng lúc tôi tới sân Nhà Thờ. Thánh nhạc còn được trổi vang nhiều lần trong lúc lễ Misa được cử hành.
Nhà Thờ Khiết Kỷ nhỏ hẹp, không đủ chỗ đứng, ngồi, cho bà con tín hữu; các trẻ em phải ngồi dưới chiếu, sát bàn thờ. Mọi người tham dự đều sốt sắng khác thường, và họ lắng nghe “Cha Quê Hương” chia sẻ Phúc Âm. Tôi dùng ngôn ngữ đơn sơ, mộc mạc nhất để đem tín thư của Chúa cho bà con “chân lấm tay bùn”, đa số không được học hành. Kết thúc Thánh Lễ, để ghi nhớ ngày hồng ân, tôi “lì xì” cho khoảng 200 em bé. Mỗi em hoan hỉ nhận 5000 đồng của “Bác”.

MỒNG BA TẾT: Sau Thánh Lễ cầu nguyện cho các Tiên Nhân, tôi tạm biệt Đức Cha Phó, các Cha, các Thầy Giảng, các Dì Phước, và bà con trong Nhà Chung.
Tôi vào phòng Đức Cha Chính để kính chào ngài. Từ giường bệnh, Đức Cha cố gắng đứng dậy cách yếu ớt để ôm hôn tôi, trong tiếng thì thào: “Năm sau cha về thăm Phát Diệm, chắc cha không còn gặp tôi nữa!” Đức Cha trìu mến tiễn tôi ra tới hành lang.
Xe hơi Tòa Giám Mục đang chờ sẵn tôi ở sân Nhà Chung. Xe lăn bánh, tôi rời Phát Diệm thân yêu, trong ánh mắt lưu luyến trông theo, cánh tay ân tình vẫy chào của các bạn, cùng mấy người em và cháu tôi.

Tôi trở về lại Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, và “thưởng thức” chiều Mồng Ba Tết rất ảm đạm của tình cảnh Quê Hương chúng ta thật sự chưa có Mùa Xuân.

* LM. JOSEPH NGUYỄN THANH SƠN, DCCT

(Lược trích tác phẩm “HÀNH HƯƠNG QUÊ MẸ VIỆT NAM”, do nxb Thánh Linh, P.O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728, ấn hành lần thứ ba, tháng Tư, 1999)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.