Hôm nay,  

Ăn Tết Quê Nhà

08/02/200000:00:00(Xem: 5967)
Tôi được hạnh phúc chào đời tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm, miền Bắc Nước Việt Nam thân yêu chúng ta.
Năm 1954, tôi theo bà nội di cư vào miền Nam. Tôi không nhớ một hình ảnh đậm nét nào về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, vì lúc ra đi tôi chỉ là một chú bé 4, 5 tuổi dại khờ.
Lớn lên tại miền đất tự do, tôi đã chia sẻ thân phận “hẩm hiu” của cả dân tộc mình, qua những vận nghiệp nổi trôi, thăng trầm. Sau 4 năm “âm u” sống dưới chế độ mới của XHCN, tháng Năm, 1979, tôi rời đất Mẹ trên một con tầu vượt biên, nhổ neo tại một bờ sông ở Mỹ Tho. Ra đi như thế này là tự chọn chín phần chết và một phần sống. Và tôi đã được Thượng Đế dủ thương cứu thoát, trong bão tố sóng dồn trên biển cả mênh mông hãi hùng.
Tôi an vui trải qua 20 tháng trên mảnh đất tạm dung của quốc gia láng giềng Indonesia, từ đảo hoang Pasirmerah tới Galang — Cửa Ngõ Hòa Bình, rồi được phái đoàn Mỹ gọi đi định cư tại San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, California.

Tháng Chạp năm 1996, tôi về thăm Quê Hương lần đầu tiên. Chuyến trở về mái nhà xưa kéo dài gần 2 tháng đã gây rất nhiều bồi hồi, xúc động trong trái tim tôi, sau 17 năm “ngàn trùng xa cách” các thân nhân, bạn hữu, và đồng bào.
Rồi mảnh đất linh thiêng của Mẹ Việt Nam đã lạ lùng thu hút tôi trở về lần thứ hai, chỉ một năm sau.
Cuộc hành hương này đã đưa tôi viếng thăm Huế “đẹp và thơ”, vào chiều thứ Năm, 22 tháng Giêng, 1998. Đất thần kinh đang nhộn nhịp đón mừng Xuân Mậu Dần, trong khung cảnh nghèo nàn của người dân, và khí hậu se se lạnh dưới trời mưa nhẹ hạt rơi trên những chiếc nón lá “bài thơ” mà trước đây tôi đã đọc trong sách báo, văn chương.

Ba ngày ngắn ngủi lặng lẽ trôi qua...
Sáng sớm Chúa nhật ngày 25 tháng Giêng, cảm động từ giã Cố đô, và các bạn thân, tôi đáp máy bay Hàng Không Việt Nam để ra Bắc, nơi gia đình tôi trong số gần một triệu người khác, đã, từ 44 năm trước, rời bỏ “thiên đường của Bác”, gồng gánh vào Nam, hầu tìm một cuộc sống mới, êm ấm, tự do.
Từ phi trường Phú Bài, chim sắt Việt Nam tha thướt bay lượn hơn một giờ, nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.
Thế là tôi khởi sự chuyến hành hương miền Bắc bằng chặng dừng chân đầu tiên đầy hứng thú, phấn khởi, tại thủ đô “Hà Nội 36 Phố Phường”. Hà Nội “trong trái tim tôi”, nói cách khác, Hà Nội được mọi người mến yêu.
Chiếc xe ô-tô thuê bao cũ kỹ đưa tôi về thẳng Dòng Chúa Cứu Thế ở Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, thoải mái qua 30 cây số đường lộ vừa được xây dựng khá tân kỳ.
Ôi, cả một biển người ở ngoài đường trong ngày kề cận Tết Con Cọp. Mọi người đều vội vã, vất vả, nhất là những kẻ buôn gánh bán bưng.
Dùng cơm tối với chư huynh đệ trong Tu Viện xong, tôi được một sinh viên Học Viện DCCT Sàigòn, gốc ở Bắc, đèo honda dạo phố đêm Hà Thành. Bác tài rành tay lái lượn một vòng lả lướt qua Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm), Quảng trường Ba Đình nơi có Lăng HCM, Văn Miếu Quốc Tử Giám...
Nhưng, chuyến “Hanoi by night” lịch sử bắt buộc phải chấm dứt sớm, vì trời giá lạnh, buốt nhức, thấu đến tận xương tủy. Chạy vội về nhà, tôi “chui” vào mùng ngay, đắp hai chiếc mền, rồi nhắm mắt. Trong suốt đêm thứ nhất này, tôi được thưởng thức cái lạnh ẩm thấp, căm căm, ghê hồn của miền Bắc. Bị cái lạnh quật ngã, tôi phải nằm “bẹp” trọn ngày hôm sau. Đến chiều, trời ấm, tôi bình phục…

Sáng thứ Ba, 27 tháng Giêng, ngày cuối năm Âm lịch, tôi vinh dự được xe riêng Tòa Giám Mục Phát Diệm đến Nhà Dòng đón về quê cha đất tổ “ăn” Tết.
Con đường dài khoảng 130 cây số đưa tôi về nơi “cất tiếng khóc oe-oe” nhỏ hẹp, ổ gà, lồi lõm, ngoằn ngoèo, bụi bặm. Hai bên lộ hiện ra cảnh trí người và vật, quá đỗi nghèo nàn, rách nát, thảm thương, mà trong hơn 4 giờ ngồi trên xe tôi đã chứng kiến tận mắt mình.
Tới Tòa Giám Mục tọa lạc ở phía sau Nhà Thờ Cổ Phát Diệm do Cha Sáu Lục xây dựng đã từ một thế kỷ, tôi được Đức Cha Phó Nguyễn Văn Yến và LM Quản Lý nồng nhiệt đón tiếp người con trở về từ đất khách quê người. Rồi tôi lên thăm Đức Cha Chính Bùi Chu Tạo tại phòng riêng của ngài trên lầu Nhà Chung. Đức Cha thọ 90 tuổi hạc, gầy còm, yếu mệt, sau những năm “gặt lúa” gian khổ trong lòng Chủ Nghĩa Cộng Sản vô thần! Đang nằm nghỉ trên giường gỗ, trải chiếu cói, giăng mùng rất đơn sơ nghèo khó, Đức Cha đã thức dậy, ra bàn ngồi, vui vẻ hỏi chuyện tôi về đời sống của tín hữu CGVN ở hải ngoại. Ngài hạnh phúc vô vàn khi biết tôi là người con của Phát Diệm “tự vệ”, kiên cường, hào hùng...


Buổi chiều, tôi được các em họ đưa về thăm làng mình. Tất cả sự nghèo nàn đã hiện ra trước mắt tôi. Dân quê “cầy sau cuốc bẫm” sống nhờ vào mấy sào ruộng và sông lạch do Cụ Nguyễn Công Trứ thực hiện. Mọi người biết ơn Cụ về công trình dẫn thủy nhập điền này.
Chiều nay là cuối năm, nhưng tôi không thấy bóng dáng “nàng Xuân”.
Ở tại Tòa Giám Mục, tôi đã đón đêm Giao Thừa đến trong buồn thảm. Chuông các nhà thờ chính, các họ lẻ đổ hồi thay cho tiếng pháo nổ truyền thống, để tống cựu nghinh tân, tiễn biệt con trâu và chào mừợng con cọp. Trong thanh vắng của đêm thiêng liêng, uy linh, tôi tâm thành cầu nguyện cho Quê Hương Đất Nước bước vào Năm Mới hạnh phúc, an bình.

MỒNG MỘT TẾT: Sau Thánh Lễ Minh Niên do Đức Cha Phó chủ sự tại Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo hữu, người đi bộ, kẻ đạp xe, trong bộ áo quần đen, nâu, khó nghèo, đơn giản, đã kéo nhau vào chật sân Nhà Chung để chúc tết Đức Cha Chính (đón Xuân trên giường bệnh), Đức Cha Phó, và các Cha trong Tòa Giám Mục, dưới làn mưa phùn và khí hậu lạnh. Tôi xúc động khi chứng kiến tấm lòng hiếu thảo rất đỗi lớn lao của đoàn chiên miền Bắc đối với các Vị Chủ Chăn của mình.
Sau tiệc sáng tân xuân tại Tòa Giám Mục, tôi lên đường đi “xông nhà” gia đình người thím (chú ruột tôi đã tạ thế năm trước). Chung phận nghèo với dân làng, thím và hai người con trú mưa che nắng dưới mái nhà tranh vách đất nhỏ hẹp. Nuôi được một cặp ngan là gia tài đáng kể của gia đình, hôm nay, thím tôi đã cắt tiết một con để làm tiệc Tết khoản đãi cháu mình lần đầu tiên gặp mặt. Thật rung động biết bao trong tâm hồn tôi!
Tuy là ngày Xuân, các trẻ em không có áo mới, không giầy mới. Tiền lì xì các em nhận được chỉ là mấy trăm đồng bạc nhàu nát, dơ bẩn, vừa đủ mua được một cục kẹo, hay một cái bong bóng nhỏ bằng ngón tay út để thổi bằng hơi sức “đói ăn” của mình.

MỒNG HAI TẾT: Không có gì đặc sắc ở quê nghèo. Các cửa hàng và các quán ăn (đặc biệt có quán ghi vỏn vẹn một chữ khá lớn: “CHÓ!” mà ai cũng hiểu) đã mở cửa bán buôn.
Chiều nay xứ Khiết Kỷ — nơi tôi đã được rửa tội lúc còn nhỏ bé như “con chuột” ở trong tay mẹ — được phép công an khu vực long trọng đón rước “Cha Quê Hương” về dâng lễ Tết. Tôi cảm động khó tả khi được các anh chị em cùng sinh ra từ mảnh đất Dục Đức, Kim Sơn khó nghèo này, yêu thương cách hết sức đặc biệt bằng một ban kèn đồng, chiêng trống, hòa nhạc chào mừng lúc tôi tới sân Nhà Thờ. Thánh nhạc còn được trổi vang nhiều lần trong lúc lễ Misa được cử hành.
Nhà Thờ Khiết Kỷ nhỏ hẹp, không đủ chỗ đứng, ngồi, cho bà con tín hữu; các trẻ em phải ngồi dưới chiếu, sát bàn thờ. Mọi người tham dự đều sốt sắng khác thường, và họ lắng nghe “Cha Quê Hương” chia sẻ Phúc Âm. Tôi dùng ngôn ngữ đơn sơ, mộc mạc nhất để đem tín thư của Chúa cho bà con “chân lấm tay bùn”, đa số không được học hành. Kết thúc Thánh Lễ, để ghi nhớ ngày hồng ân, tôi “lì xì” cho khoảng 200 em bé. Mỗi em hoan hỉ nhận 5000 đồng của “Bác”.

MỒNG BA TẾT: Sau Thánh Lễ cầu nguyện cho các Tiên Nhân, tôi tạm biệt Đức Cha Phó, các Cha, các Thầy Giảng, các Dì Phước, và bà con trong Nhà Chung.
Tôi vào phòng Đức Cha Chính để kính chào ngài. Từ giường bệnh, Đức Cha cố gắng đứng dậy cách yếu ớt để ôm hôn tôi, trong tiếng thì thào: “Năm sau cha về thăm Phát Diệm, chắc cha không còn gặp tôi nữa!” Đức Cha trìu mến tiễn tôi ra tới hành lang.
Xe hơi Tòa Giám Mục đang chờ sẵn tôi ở sân Nhà Chung. Xe lăn bánh, tôi rời Phát Diệm thân yêu, trong ánh mắt lưu luyến trông theo, cánh tay ân tình vẫy chào của các bạn, cùng mấy người em và cháu tôi.

Tôi trở về lại Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, và “thưởng thức” chiều Mồng Ba Tết rất ảm đạm của tình cảnh Quê Hương chúng ta thật sự chưa có Mùa Xuân.

* LM. JOSEPH NGUYỄN THANH SƠN, DCCT

(Lược trích tác phẩm “HÀNH HƯƠNG QUÊ MẸ VIỆT NAM”, do nxb Thánh Linh, P.O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728, ấn hành lần thứ ba, tháng Tư, 1999)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.