Hôm nay,  

Ăn Tết Quê Nhà

08/02/200000:00:00(Xem: 5985)
Tôi được hạnh phúc chào đời tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm, miền Bắc Nước Việt Nam thân yêu chúng ta.
Năm 1954, tôi theo bà nội di cư vào miền Nam. Tôi không nhớ một hình ảnh đậm nét nào về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, vì lúc ra đi tôi chỉ là một chú bé 4, 5 tuổi dại khờ.
Lớn lên tại miền đất tự do, tôi đã chia sẻ thân phận “hẩm hiu” của cả dân tộc mình, qua những vận nghiệp nổi trôi, thăng trầm. Sau 4 năm “âm u” sống dưới chế độ mới của XHCN, tháng Năm, 1979, tôi rời đất Mẹ trên một con tầu vượt biên, nhổ neo tại một bờ sông ở Mỹ Tho. Ra đi như thế này là tự chọn chín phần chết và một phần sống. Và tôi đã được Thượng Đế dủ thương cứu thoát, trong bão tố sóng dồn trên biển cả mênh mông hãi hùng.
Tôi an vui trải qua 20 tháng trên mảnh đất tạm dung của quốc gia láng giềng Indonesia, từ đảo hoang Pasirmerah tới Galang — Cửa Ngõ Hòa Bình, rồi được phái đoàn Mỹ gọi đi định cư tại San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, California.

Tháng Chạp năm 1996, tôi về thăm Quê Hương lần đầu tiên. Chuyến trở về mái nhà xưa kéo dài gần 2 tháng đã gây rất nhiều bồi hồi, xúc động trong trái tim tôi, sau 17 năm “ngàn trùng xa cách” các thân nhân, bạn hữu, và đồng bào.
Rồi mảnh đất linh thiêng của Mẹ Việt Nam đã lạ lùng thu hút tôi trở về lần thứ hai, chỉ một năm sau.
Cuộc hành hương này đã đưa tôi viếng thăm Huế “đẹp và thơ”, vào chiều thứ Năm, 22 tháng Giêng, 1998. Đất thần kinh đang nhộn nhịp đón mừng Xuân Mậu Dần, trong khung cảnh nghèo nàn của người dân, và khí hậu se se lạnh dưới trời mưa nhẹ hạt rơi trên những chiếc nón lá “bài thơ” mà trước đây tôi đã đọc trong sách báo, văn chương.

Ba ngày ngắn ngủi lặng lẽ trôi qua...
Sáng sớm Chúa nhật ngày 25 tháng Giêng, cảm động từ giã Cố đô, và các bạn thân, tôi đáp máy bay Hàng Không Việt Nam để ra Bắc, nơi gia đình tôi trong số gần một triệu người khác, đã, từ 44 năm trước, rời bỏ “thiên đường của Bác”, gồng gánh vào Nam, hầu tìm một cuộc sống mới, êm ấm, tự do.
Từ phi trường Phú Bài, chim sắt Việt Nam tha thướt bay lượn hơn một giờ, nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.
Thế là tôi khởi sự chuyến hành hương miền Bắc bằng chặng dừng chân đầu tiên đầy hứng thú, phấn khởi, tại thủ đô “Hà Nội 36 Phố Phường”. Hà Nội “trong trái tim tôi”, nói cách khác, Hà Nội được mọi người mến yêu.
Chiếc xe ô-tô thuê bao cũ kỹ đưa tôi về thẳng Dòng Chúa Cứu Thế ở Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, thoải mái qua 30 cây số đường lộ vừa được xây dựng khá tân kỳ.
Ôi, cả một biển người ở ngoài đường trong ngày kề cận Tết Con Cọp. Mọi người đều vội vã, vất vả, nhất là những kẻ buôn gánh bán bưng.
Dùng cơm tối với chư huynh đệ trong Tu Viện xong, tôi được một sinh viên Học Viện DCCT Sàigòn, gốc ở Bắc, đèo honda dạo phố đêm Hà Thành. Bác tài rành tay lái lượn một vòng lả lướt qua Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm), Quảng trường Ba Đình nơi có Lăng HCM, Văn Miếu Quốc Tử Giám...
Nhưng, chuyến “Hanoi by night” lịch sử bắt buộc phải chấm dứt sớm, vì trời giá lạnh, buốt nhức, thấu đến tận xương tủy. Chạy vội về nhà, tôi “chui” vào mùng ngay, đắp hai chiếc mền, rồi nhắm mắt. Trong suốt đêm thứ nhất này, tôi được thưởng thức cái lạnh ẩm thấp, căm căm, ghê hồn của miền Bắc. Bị cái lạnh quật ngã, tôi phải nằm “bẹp” trọn ngày hôm sau. Đến chiều, trời ấm, tôi bình phục…

Sáng thứ Ba, 27 tháng Giêng, ngày cuối năm Âm lịch, tôi vinh dự được xe riêng Tòa Giám Mục Phát Diệm đến Nhà Dòng đón về quê cha đất tổ “ăn” Tết.
Con đường dài khoảng 130 cây số đưa tôi về nơi “cất tiếng khóc oe-oe” nhỏ hẹp, ổ gà, lồi lõm, ngoằn ngoèo, bụi bặm. Hai bên lộ hiện ra cảnh trí người và vật, quá đỗi nghèo nàn, rách nát, thảm thương, mà trong hơn 4 giờ ngồi trên xe tôi đã chứng kiến tận mắt mình.
Tới Tòa Giám Mục tọa lạc ở phía sau Nhà Thờ Cổ Phát Diệm do Cha Sáu Lục xây dựng đã từ một thế kỷ, tôi được Đức Cha Phó Nguyễn Văn Yến và LM Quản Lý nồng nhiệt đón tiếp người con trở về từ đất khách quê người. Rồi tôi lên thăm Đức Cha Chính Bùi Chu Tạo tại phòng riêng của ngài trên lầu Nhà Chung. Đức Cha thọ 90 tuổi hạc, gầy còm, yếu mệt, sau những năm “gặt lúa” gian khổ trong lòng Chủ Nghĩa Cộng Sản vô thần! Đang nằm nghỉ trên giường gỗ, trải chiếu cói, giăng mùng rất đơn sơ nghèo khó, Đức Cha đã thức dậy, ra bàn ngồi, vui vẻ hỏi chuyện tôi về đời sống của tín hữu CGVN ở hải ngoại. Ngài hạnh phúc vô vàn khi biết tôi là người con của Phát Diệm “tự vệ”, kiên cường, hào hùng...


Buổi chiều, tôi được các em họ đưa về thăm làng mình. Tất cả sự nghèo nàn đã hiện ra trước mắt tôi. Dân quê “cầy sau cuốc bẫm” sống nhờ vào mấy sào ruộng và sông lạch do Cụ Nguyễn Công Trứ thực hiện. Mọi người biết ơn Cụ về công trình dẫn thủy nhập điền này.
Chiều nay là cuối năm, nhưng tôi không thấy bóng dáng “nàng Xuân”.
Ở tại Tòa Giám Mục, tôi đã đón đêm Giao Thừa đến trong buồn thảm. Chuông các nhà thờ chính, các họ lẻ đổ hồi thay cho tiếng pháo nổ truyền thống, để tống cựu nghinh tân, tiễn biệt con trâu và chào mừợng con cọp. Trong thanh vắng của đêm thiêng liêng, uy linh, tôi tâm thành cầu nguyện cho Quê Hương Đất Nước bước vào Năm Mới hạnh phúc, an bình.

MỒNG MỘT TẾT: Sau Thánh Lễ Minh Niên do Đức Cha Phó chủ sự tại Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo hữu, người đi bộ, kẻ đạp xe, trong bộ áo quần đen, nâu, khó nghèo, đơn giản, đã kéo nhau vào chật sân Nhà Chung để chúc tết Đức Cha Chính (đón Xuân trên giường bệnh), Đức Cha Phó, và các Cha trong Tòa Giám Mục, dưới làn mưa phùn và khí hậu lạnh. Tôi xúc động khi chứng kiến tấm lòng hiếu thảo rất đỗi lớn lao của đoàn chiên miền Bắc đối với các Vị Chủ Chăn của mình.
Sau tiệc sáng tân xuân tại Tòa Giám Mục, tôi lên đường đi “xông nhà” gia đình người thím (chú ruột tôi đã tạ thế năm trước). Chung phận nghèo với dân làng, thím và hai người con trú mưa che nắng dưới mái nhà tranh vách đất nhỏ hẹp. Nuôi được một cặp ngan là gia tài đáng kể của gia đình, hôm nay, thím tôi đã cắt tiết một con để làm tiệc Tết khoản đãi cháu mình lần đầu tiên gặp mặt. Thật rung động biết bao trong tâm hồn tôi!
Tuy là ngày Xuân, các trẻ em không có áo mới, không giầy mới. Tiền lì xì các em nhận được chỉ là mấy trăm đồng bạc nhàu nát, dơ bẩn, vừa đủ mua được một cục kẹo, hay một cái bong bóng nhỏ bằng ngón tay út để thổi bằng hơi sức “đói ăn” của mình.

MỒNG HAI TẾT: Không có gì đặc sắc ở quê nghèo. Các cửa hàng và các quán ăn (đặc biệt có quán ghi vỏn vẹn một chữ khá lớn: “CHÓ!” mà ai cũng hiểu) đã mở cửa bán buôn.
Chiều nay xứ Khiết Kỷ — nơi tôi đã được rửa tội lúc còn nhỏ bé như “con chuột” ở trong tay mẹ — được phép công an khu vực long trọng đón rước “Cha Quê Hương” về dâng lễ Tết. Tôi cảm động khó tả khi được các anh chị em cùng sinh ra từ mảnh đất Dục Đức, Kim Sơn khó nghèo này, yêu thương cách hết sức đặc biệt bằng một ban kèn đồng, chiêng trống, hòa nhạc chào mừng lúc tôi tới sân Nhà Thờ. Thánh nhạc còn được trổi vang nhiều lần trong lúc lễ Misa được cử hành.
Nhà Thờ Khiết Kỷ nhỏ hẹp, không đủ chỗ đứng, ngồi, cho bà con tín hữu; các trẻ em phải ngồi dưới chiếu, sát bàn thờ. Mọi người tham dự đều sốt sắng khác thường, và họ lắng nghe “Cha Quê Hương” chia sẻ Phúc Âm. Tôi dùng ngôn ngữ đơn sơ, mộc mạc nhất để đem tín thư của Chúa cho bà con “chân lấm tay bùn”, đa số không được học hành. Kết thúc Thánh Lễ, để ghi nhớ ngày hồng ân, tôi “lì xì” cho khoảng 200 em bé. Mỗi em hoan hỉ nhận 5000 đồng của “Bác”.

MỒNG BA TẾT: Sau Thánh Lễ cầu nguyện cho các Tiên Nhân, tôi tạm biệt Đức Cha Phó, các Cha, các Thầy Giảng, các Dì Phước, và bà con trong Nhà Chung.
Tôi vào phòng Đức Cha Chính để kính chào ngài. Từ giường bệnh, Đức Cha cố gắng đứng dậy cách yếu ớt để ôm hôn tôi, trong tiếng thì thào: “Năm sau cha về thăm Phát Diệm, chắc cha không còn gặp tôi nữa!” Đức Cha trìu mến tiễn tôi ra tới hành lang.
Xe hơi Tòa Giám Mục đang chờ sẵn tôi ở sân Nhà Chung. Xe lăn bánh, tôi rời Phát Diệm thân yêu, trong ánh mắt lưu luyến trông theo, cánh tay ân tình vẫy chào của các bạn, cùng mấy người em và cháu tôi.

Tôi trở về lại Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, và “thưởng thức” chiều Mồng Ba Tết rất ảm đạm của tình cảnh Quê Hương chúng ta thật sự chưa có Mùa Xuân.

* LM. JOSEPH NGUYỄN THANH SƠN, DCCT

(Lược trích tác phẩm “HÀNH HƯƠNG QUÊ MẸ VIỆT NAM”, do nxb Thánh Linh, P.O. Box 8394, Fountain Valley, CA 92728, ấn hành lần thứ ba, tháng Tư, 1999)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.