Hôm nay,  

Tuổi Ngọc

23/07/200300:00:00(Xem: 7605)
(Viết tặng các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô và Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc, Huế nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường, 1903-2003)
Tuổi Ngọc là tên tờ báo học trò của trường Jeanne d'Arc Huế niên học 1965-1966 do tôi thực hiện với sự đóng góp bài vở của giáo sư và học sinh nhân mùa Lễ Giáng Sinh năm 1965. Tôi chọn cái tên nầy để nói về những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò dưới mái trường Jeanne d'Arc, nhân dịp mừng 100 năm của trường (1903 -2003).
Tôi biết đến trường Jeanne d'Arc và các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô từ năm 1952, cách nay hơn nửa thế kỷ. Hồi đó, tôi mới hơn 12 tuổi, lần đầu tiên đến Huế. Trong khi chờ đợi nhập học tại trường La San Pellerin (trường Bình Linh) do các Sư Huynh Dòng Thánh Jean Baptiste de La Salle (phiên âm tiếng Việt là Dòng các Sư Huynh La San) phụ trách, tôi được một người bà con đưa đến thăm Bà Marie (Dòng "Ma Soeur" Saint Paul) lúc bấy giờ đang phụ trách Bệnh Viện Bài Lao Huế. Bà là Dì ruột của chị dâu tôi (Nguyễn Thị Uyên), và cũng là người đồng hương (Quảng Trị) nên chúng tôi xem Bà như người trong bà con họ hàng của mình.
Cách Viện Bài Lao chừng 500 mét, có trường Jeanne D'Arc của các Soeur Dòng Thánh Phaolô, cùng một Dòng tu với Bà Marie. Ngoài ra, tại làng Kim Long, bên bờ sông Hương, cách Huế chừng 3 cây số còn có một Viện Mồ Côi có tên là Cô Nhi Viện "Dục Anh" do các Soeur Dòng Thánh Phaolô phụ trách cũng đã hoạt động cả trăm năm rồi! (Bà Marie sinh quán tại làng An Lộng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Dưới con mắt của tôi, Bà Marie là một Nữ Tu có nhiều uy tín và được mọi người kính trọng nhờ lòng đạo đức, tinh thần bác ái, hy sinh phục vụ bệnh nhân và học vấn của bà. Tôi lớn lên ở một miền quê, tỉnh nhỏ, chỉ thấy các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, khiêm tốn, nghèo khó, mặc áo dòng đen, đi guốc gỗ, học hành chỉ đủ để dạy giáo lý cho trẻ em quê mùa, dốt nát, nghèo nàn ở các giáo xứ xa xôi, thiếu ánh sáng văn minh của thành thị... Bây giờ thấy một Nữ Tu đi giày da, mặc áo Dòng theo kiểu Tây, nói tiếng Pháp như "đầm", được mọi người kính trọng một cách đặc biệt...nên tôi rất khâm phục.
Năm 1960, vào tuổi trưởng thành, tôi được gia đình trao cho trách nhiệm liên lạc với trường Jeanne d'Arc để lo cho mấy đứa cháu đang học nội trú tại đây. Mỗi năm, vào dịp Tết hay nghỉ Hè, tôi đều nhận được thư mời thay mặt phụ huynh đến dự Lễ Phát Phần Thưởng, xem Văn Nghệ và Hội Chợ do trường tổ chức. Jeanne d'Arc là trường nữ trung tiểu học, tư thục, trước năm 1954-1955, chuyên dạy chương trình Pháp. Bậc tiểu học thì nhận học sinh nam lẫn nữ. Nhưng từ trung học trở lên thì chỉ nhận nữ sinh mà thôi. Các tu sinh cũng học chung với nữ sinh ở ngoài. Trường có nhận học sinh nội trú. Mỗi lớp từ 25 đến 30 học sinh, đa số là con nhà danh giá, giàu có tại Thành Phố Huế và Miền Trung. Trước 1954, nhiều gia đình công chức hay sĩ quan người Pháp cho con đến học trường nầy. Một số các mệnh phụ, phu nhân đều xuất thân ở đây. Tất nhiên nữ sinh trường Jeanne d'Arc cũng có tiếng là xinh đẹp và được đánh giá cao về mặt tư cách đối với xã hội thời đó.
Mỗi lần tổ chức hội chợ, trường lựa chọn các cô duyên dáng, ăn mặc lịch sự, nói năng khôn ngoan, khéo léo để tiếp đón quan khách. Đặc biệt, trường chọn các cô có bàn tay đẹp, đứng núp sau màn, chỉ đưa "bàn tay ngọc" lên cho người ta ném vòng. Vòng nào lọt vào bàn tay đó thì được phần thưởng. Ngoài ra còn những màn múa, hát và diễn kịch do các nữ sinh và các tu sinh trình bày rất công phu, đẹp mắt. Nhiều chàng trai đến xem văn nghệ, tham gia hội chợ...ra về phải mang bệnh tương tư! Có thể nói, đây là cơ hội cho các bà mẹ, các cậu con trai danh giá trong thành phố tìm người để "kết tóc xe tơ", tính chuyện xây dựng gia đình tương lai...
Mặc dù mới ngoài hai mươi tuổi, nhưng với trách nhiệm là người đại diện gia đình, cứ mỗi cuối tuần tôi đến gặp Bà Hiệu Trưởng để xin phép cho các cháu về nhà chơi, ở lại tối thứ Bảy, chiều Chúa Nhật trở lại. Nhiều lần được nói chuyện với Bà Hiệu Trưởng, tôi được Bà quý mến và xem tôi là người đứng đắn, trưởng thành. Năm 1964, tôi đang học tại Đại Học Sư Phạm Huế, thì Linh Mục Nguyễn Kim Bính, lúc đó đang làm Cha Xứ tại nhà thờ Phanxicô, bên cạnh trường Jeanne d'Arc cho biết, trường đang cần một giáo sư dạy Văn Chương và Sử Địa và ngài cũng muốn giới thiệu tôi. Đa số giáo sư của trường là các bậc lão thành hoặc các cô giáo, ít khi có Thầy giáo trẻ tuổi như tôi.
Năm 1964, trường mới có các lớp Đệ Nhất Cấp: từ lớp đệ tứ (tức lớp 9) trở xuống. Bà Hiệu Trưởng là một Nữ Tu nói giọng Huế, có người anh ruột là một Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế, hai anh em đều trở lại đạo Công Giáo, một người làm Linh Mục và một người là Nữ Tu. Bà có văn bằng Cử Nhân, đối với thời đó, rất giá trị. Qua niên khóa 1965-1966, có Hiệu Trưởng mới và trường mở thêm 2 lớp Đệ Tam (lớp 10) và Đệ Nhị (lớp 11) thi Tú Tài bán phần. Các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng (Kim Đôi) cũng được gởi đến học tại đây, mỗi lớp vào khoảng 40 học sinh. Tôi dạy Quốc Văn (Việt) lớp Đệ Tam (10) và Sử Địa lớp Đệ Nhị (11). Trước khi vào niên học, tôi nhớ có cô sinh viên lên nhận bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại Đại Học Huế với huy chương danh dự bằng bạc. Khi gọi tên cô, ai cũng chăm chú nhìn xem "nhan sắc" cô như thế nào" Nhưng các nam sinh viên đã quá ngạc nhiên khi được biết cô sinh viên đó lại là một Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô: Soeur Marie Jeanne Đại Thị Đức, em ruột của nhà văn TCHYA (Đại Đức Tuấn). TCHYA là tác giả các tiểu thuyết nổi tiếng trước 1945 như Kho Vàng Sầm Sơn, Đồng Tiền Vạn Lịch,v.v...mà tôi đã say mê đọc một thời...Nữ Tu Đại Thị Đức đã từng du học ở Roma về, là người có tài thuyết phục, ngoại giao rộng, biết tổ chức, chỉ huy.

Niên học mới 1965-1966, Soeur Marie Jeanne (Đại Thị Đức) làm Hiệu Trưởng. Học sinh thường gọi là Bà Marie Jeanne khác với Bà Jeanne (Trương Thị Hưởng) đã từng làm Hiệu Trưởng vào những năm 1960-1963. Bà Marie Jeanne rất có uy, học sinh đều sợ Bà. Tôi còn quá trẻ, sợ mang tiếng với các cô học trò nên mỗi lần đến giờ ra chơi (giờ nghỉ), tôi thường đến văn phòng Bà ngồi nói chuyện. Tôi gọi Bà bằng Dì một cách thân mật, xem Bà như là bậc phụ huynh trong gia đình. Ở Huế, vào khoảng tháng 10 trở đi, thời tiết hay mưa bão, có khi trời trở lạnh bất thường. Có lần Bà đi ngang lớp tôi đang dạy, thấy tôi hắt hơi, sổ mũi...Bà liền đi xuống nhà ăn, bưng lên một ly rượu vang nóng (wine) và hai viên thuốc cảm, để trên bàn cho tôi. Rồi chào tôi, ra đi. Học sinh thấy vậy, nói với nhau:
"Bà Marie Jeanne là Mẹ của ông T. đó!". Cô khác lại nói:"Ông T. là cháu Bà Marie Jeanne!"...
Lễ Giáng Sinh năm 1966, tôi thực hiện cho trường một đặc san, với phương tiện riêng của tôi, không bắt học sinh đóng góp tiền bạc gì. Tôi nhờ họa sĩ Phạm Văn Hạng trình bày hình bìa và trang trí bên trong. Tôi kêu gọi anh em giáo sư và học sinh tham gia, có người làm thơ, có người viết truyện. Tôi cũng góp một truyện ngắn, một bài thơ...cho vui. Báo in Ronéo, nhờ nhà in đóng và cắt xén rất đẹp. So với thời đó, một tờ báo của học sinh mà được như thế là hãnh diện lắm rồi! Đây là kỷ niệm cuối cùng của tôi với trường Jeanne d'Arc.
Sau đó ít lâu, tôi được chuyển về làm việc tại Bộ Giáo Dục và chưa đầy một năm sau (tháng 10-1967) tôi ra ứng cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện tại Thừa Thiên. Sau khi đắc cử, tôi trở về Sài Gòn. Thỉnh thoảng có dịp ra Huế, tôi có đến thăm Soeur Marie Jeanne và thăm trường. Bà Marie Jeanne có xin tôi mua cho trường một cái loa phát thanh cầm tay để khi nói chuyện trước đám đông học sinh cho tiện. Tôi đã thực hiện theo ý của Bà. Trong thời gian làm Dân Biểu, có lần tôi đi qua Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn...Qua sự giới thiệu của Bà Marie Jeanne, tôi có ghé thăm gia đình Ông Bà Thành Quang Nhiên, Tổng Lãnh Sự VNCH tại Hồng Kông và đã được Ông Bà tiếp đón rất ân cần. Bà Nhiên là người trong gia đình của Bà Marie Jeanne.
Từ 1972 trở đi, tôi không có dịp về Huế. Nghe nói Bà Marie Jeanne đã về Nhà Dòng tại Đà Nẵng. Sau ngày 30-4-1975, tôi bị giam giữ trong "nhà tù cải tạo" của chế độ CSVN suốt 13 năm. Tết năm 1988, được về Sài Gòn, tôi liền viết thư ra Đà Nẵng báo tin và hỏi thăm Bà. Nhưng Bà Bề Trên Nhà Dòng ở Đà Nẵng đã viết thư cho tôi biết: Bà Marie Jeanne Đại Thị Đức đã qua đời! Tôi rất buồn và cảm thấy một sự mất mát rất lớn trong cuộc đời của mình: Trong thời gian 13 năm tù, mẹ tôi qua đời năm 1985 và bây giờ 1988, lại thêm một người mẹ tinh thần nữa ra đi! Ở trong tù cũng như khi được tự do, mỗi lần đọc kinh, cầu nguyện hay tham dự Thánh Lễ, tôi đều nhớ đến các ân nhân, trong đó có Bà Marie Jeanne.
Vợ tôi cũng là cựu học sinh Jeanne d'Arc và cũng đã trở lại đây làm giáo sư một thời gian. Cách nay chưa đầy một năm, có mấy người bạn cùng lớp với vợ tôi tại trường Jeanne d'Arc gặp nhau tại TP Westmisnter, Nam California. Tôi có đến thăm. Tất cả được 05 người. Bốn người ở Nam California: Bùi Thu Hương, Phan Thu Hương, Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Lài và Nguyễn Thị Tân ở New Jersey...Các cô mong có dịp họp mặt cựu học sinh Jeanne d'Arc đông hơn. Nghe nói ở vùng San Jose (Bắc California) có nhóm Thiên Hựu - Jeanne d'Arc, không biết được bao nhiêu người" Ở Việt Nam, tôi có gặp chị Nguyễn Thị Sô, chị Lê Thị Bình (Dòng Kim Đôi) và Nguyễn Thị Lệ Mỹ...Tại Hoa Kỳ, tôi có gặp Từ Thị Siêu và Nguyễn Thị Phước...Tôi không còn nhớ mặt các cô, nhưng các cô vẫn còn nhận ra tôi.
Xin cám ơn Soeur Theresa Nguyễn Thị Diệu Thới, cựu học sinh trường Jeanne d'Arc Huế, hiến ở Đà Nẵng, đã báo tin cho tôi biết kỷ niệm 100 năm (1903-2003) trường Jeanne d'Arc Huế sẽ được tổ chức vào ngày 27 tháng 12 năm 2003 tại Huế.
Các cựu Giáo sư và cựu học sinh trường Jeanne d'Arc có thể liên lạc với:
Sr. Benedictine Trần Diệu Khánh
365 Ngu Hành Sơn (Phan Tu)
Quận 3 Đà Nẵng- Việt nam
Địa chỉ email: [email protected]
Sau ngày 30-4-1975, trường bị nhà nước CSVN chiếm đoạt, các Soeur phải đi nơi khác, học trò cũng không còn! Đây là tài sản của Giáo Hội Công Giáo, không biết Nhà Nước có chịu trả lại cho Nhà Dòng hay không" Các Soeur suốt đời lo việc giáo dục và bác ái, xã hội, phục vụ người nghèo, người đau ốm...không lẽ chẳng còn ai biết đến công ơn của các Nữ Tu hay sao" Việc tịch thu nhà cửa, tu viện, trường học, nhà nguyện, cô nhi viện của các Soeur...có hợp tình, hợp lý hay không"
NLT (7-7-2003)
(Sau đây là bài thơ về trường Jeanne d'Arc của một cựu học sinh, gởi về Quý Soeur Dòng Saint Paul nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường Jeanne d'Arc)
TRƯỜNG JEANNE D'ARC
Có một ngày, khi trở lại Quê Hương,
Tôi sẽ không quên hỏi tên đường,
Thăm lại Jeanne d'Arc, ngôi trường cũ,
Cho thỏa lòng, tôi vẫn nhớ thương.
*
Thuở ấy, tóc tôi hẳn còn xanh,
Tuổi xuân với ước mộng trong lành,
Mơ ước tuyệt vời và thánh thiện,
Tôi nhìn đời, đời đẹp như tranh.
*
Mỗi ngày hai buổi, tôi đến trường.
Trường tôi giữa núi Ngự sông Hương,
Do Quý Nữ Tu mang áo trắng,
Mà cuộc đời (là) bản nhạc Yêu Thương.
*
Trường như tổ ấm của chim non.
Trường cho tuổi trẻ nụ cười dòn.
Trường khai trí tuệ thêm trong sáng.
Trường luyện con người, tấm lòng son.
*
Tới trường, tôi gặp bạn, gặp Thầy.
Học hành không bỏ một phút giây.
Tôi kính Thầy Cô như Cha Mẹ.
Bạn bè cũng chọc phá một cây!
*
Giờ tôi tuổi đã tóc muối tiêu,
Nghĩ đến trường xưa, nhớ thật nhiều,
Nhớ bạn, nhớ Thầy, ngôi trường cũ,
Lòng thầm cảm tạ Đấng Cao Siêu.
An Siêu
(Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.