Hôm nay,  

Chiều Mưa Biên Giới

24/12/200300:00:00(Xem: 5421)
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu" câu hát mở đầu một bài nhạc nổi tiếng vào thập niên sáu mươi của nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông bỗng trở về ký ức, trời San Jose lất phất mưa. Người nhạc sỹ hiện còn ở trong nước, từng là đại tá VNCH, bị tù cải tạo sau năm bảy lăm, có nhiều ca khúc để đời. Điểm đặc biệt của ông là những tư tưởng cao đẹp về non sông đất nước trang trải qua lời ca trong các bài như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Hải Ngoại Thương Ca, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp...
Trong một buổi ca nhạc tháng trước, khi Phương Hồng Quế buông ra câu chiều mưa biên giới anh đi về đâu thì khán giả vỗ tay rào rào, có lẽ đã gợi lại một thời kỷ niệm mỗi người trong một bối cảnh của nền văn nghệ tự do và phong phú miền Nam. Quái kiệt Trần Văn Trạch thường trình bày bản đó với lối phát âm miền sông nước Cửu Long nghe rất có duyên, nhất là chữ "về đâu" thành "dề đâu".
Cái chữ biên giới cũng là nguồn hứng khởi để Phạm Duy viết nên bản Bên Cầu Biên Giới điệu Tango, Anh Bằng viết bản Nửa Đêm Biên Giới điệu Bolero.
Chiều nay trời mưa làm nỗi nhớ bâng quơ, làm man mác lòng kẻ xa xứ và hình ảnh mơ hồ của cái chữ biên giới lan man trong đầu. Từng là người vượt qua cái biên giới để qua tuốt bên này tránh nạn cộng sản, từng du lịch các nước và bước qua những trạm xét hải quan mới thấy rằng biên giới là một thực thể, là một cái gì không thể nào xoá bỏ được. Nhiều lý thuyết gia đã đưa ra điều lý tuởng là không còn biên giới nhưng đó là điều sai lầm vì trong cuộc đời này phải có phân ranh giữa xấu tốt, hay dở, thiện ác... như hai yếu tố Aâm Dương trong Thái Cực Đồ là nền tảng của triết lý Trung quốc.
Người Việt Nam ở hải ngoại từ bước đầu là những người không chấp nhận chế độ cộng sản, sau này họ bảo lãnh thân nhân từ trong nước qua làm cộng đồng trở nên đông đúc. Người bên này trở về thăm quê, người bên kia qua định cư tạo nên một sự giao thoa chằng chéo phức tạp.
Những người Việt kiều đã mang về những hình ảnh tự do dân chủ của thế giới Tây phương và người mới qua bên này cũng còn vương vấn những suy nghĩ của một xã hội đang bị cai trị bởi một chủ nghĩa độc tài. Có vẻ như là hai khối hải ngoại và trong nước đang xích lại gần nhau. Nhà cầm quyền Hà Nội rất mong muốn thu phục nhân tâm của khối người xa tổ quốc yêu tha thiết quê hương, là nguồn cung cấp tiền bạc dồi dào hàng năm tới mấy tỉ đô la cho cả nước.
Có đi nhiều nơi có sắc dân Tiên Rồng sinh sống mới thấy rằng chỉ còn báo chí tiếng Việt và những sản phẩm ca nhạc qua hình thức Video, CD là biểu hiện duy nhất sự hiện hữu của cộng đồng trong đất nước xa lạ, và là sợi dây nối kết đầm thắm nhất của những người Việt hải ngoại.

Biết được điều cốt tuỷ đó, chế độ Cộng sản lúc nào cũng đặt ra những kế hoạch nhằm chinh phục bằng con đường văn hoá văn nghệ. Những băng nhạc băng hình trong nước bán với giá rẻ mạt đã tràn lan hải ngoại, những bài ca sáng tác bên đó đã chiếm ưu thế cùng với đông đảo lực lượng nghệ sỹ trình diễn hầu hết là từ quê nhà sang bên này định cư, đang có vẻ như dần dần xoá mờ những dấu vết văn hoá văn nghệ của miền Nam tự do.
Thính giả cứ bị nghe hoài những bài ca tụng thành phố Hà Nội dần dần sẽ không còn nhớ Sài Gòn là gì nữa, những bài hát êm đềm về một đất nước có vẻ như là no ấm thoải mái không có đàn áp, nghèo khổ và đầy tham nhũng bất công. Nghe thì hay đấy nhưng từ từ sẽ có những ảnh hưởng về tuyên truyền rất hiệu quả, điều mà chế độ Hà Nội mong muốn.
Hãy đọc lời tuyên bố của ca nhân Bằng Kiều, vừa có thẻ xanh ở Mỹ sau khi lấy vợ là Trizzi Phương Trinh: "Thế hệ của tôi, điều tích cực nhất là chúng tôi đã đẩy được âm nhạc hải ngoại khỏi Việt Nam." Như vậy rõ ràng là vẫn còn có một biên giới giữa nhạc hải ngoại và nhạc trong nước, nó khác như thế nào thì tuỳ mỗi người đã cảm nhận.
Tại sao cứ lại phải lặp đi lặp lại cái chữ biên giới, một lằn ranh chính trị cần thiết giữa hải ngoại và chế độ trong nước. Xin hỏi lại rằng nếu không có nó thì những nhà đấu tranh cho dân chủ tự do ở quê nhà bị đàn áp thì lấy ai bên này lên tiếng để nhờ áp lực quốc tế cứu họ. Nếu không có báo chí truyền thông của người Việt hải ngoại thì dân trong nước làm sao biết được tập đoàn chính trị bộ Hà Nội đã nhân nhượng rất nhiều trong việc vẽ lại đường biên giới Việt Nam và Trung quốc.
Có thể ví tình hình hải ngoại và chế độ cộng sản trong nước như là Đài Loan và Trung Cộng. Đài Loan có chính quyền, cộng đồng thì phân tán khắp nơi và vô chính phủ không ai có quyền hơn ai. Trung Cộng lúc nào cũng sẵn sàng nuốt chửng hòn đảo nhỏ bé muốn ly khai, nhưng dù sao thì Đài Loan cũng đã là một tiếng nói khác đại diện cho nền văn hoá Trung quốc đối với thế giới. Cộng đồng người VN hải ngoại tị nạn cộng sản cũng là một tiếng nói đấu tranh cho dân chủ tự do, đại diện cho mấy chục triệu đồng bào trong nước.
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu" Câu hát chứa chan tình cảm văn nghệ và bỗng lang thang quẹo ngõ vào ý nghĩ chính trị. Biên giới vẫn còn đây trong bầu trời u ám mưa phủ và anh vẫn còn đứng ở đây để bảo vệ lằn ranh cần thiết đó. Tôi vẫn có thể ngồi uống rượu với bạn cùng trao đổi về những khía cạnh nghệ thuật, vẫn vỗ tay khen ngợi ca khúc cùng tiếng hát của bạn nhưng mà thôi, nói chi những điều nặng đầu. Xin hát tặng bạn mấy câu hát của bài Chiều Mưa Biên Giới, tôi không đi về đâu cả mà chỉ ngồi đây bên này biên giới nhìn mưa cảm khái.
San Jose 21-12-03

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.