Hôm nay,  

Phật Nhập Diệt

29/03/200800:00:00(Xem: 21514)

Với con mắt Thế Gian thì có sống, có chết, ai cũng phải chết nên Đức phật cũng phải chết như mọi người thường, đó là vì chúng ta Vô Minh nên chỉ biết chấp chước mọi vật, mọi sự qua hình tướng.

Nếu sâu sắc hơn thì hiểu rằng Chân Tâm, Phật Tính không tùy thuộc vào sinh tử, nó siêu việt vũ trụ, vạn vật, nói rõ hơn là nó siêu việt tất cả mọi hình tướng, song nó cũng không tách rời hình tướng cho nên khi nhìn Phật Nhập Diệt thì chúng ta hiểu rằng: "Phật đây là Phật Tính" mà đã là Phật Tính thì không ảnh hưởng gì tới sinh diệt, cũng không ảnh hưởng gì tới đớn đau, vui/buồn, sướng/khổ, nó cũng không phải tái tạo khi chúng ta được sinh ra và khi chúng ta chết, nó cũng không biến mất vì Phật Tính không phải là một vật, nó ra ngoài thật/giả, có/không, nhưng lại không rời Thân, Tâm, Thế Giới, Vũ Trụ Vạn Vật này.

Do đó mất Thân này là tự động phải có ngay Thân khác dù muốn hay không để tuyệt đối vẹn toàn "Hữu Trí, Hữu Thân", tức Thân Tâm viên mãn.

Sau đây là những chứng minh qua Kinh Sách, qua những lời của Phật, của Tổ đã thuyết; Theo như trong Bửu Tạng Luận, Đại Sư Tăng Triệu dậy rằng:

Với Chân Không Diệu Hữu ấy chúng ta không thể chấp là Thật hay Giả, vì nó Vô Danh, Vô Ngôn, Vô Thuyết, Phi Vật, Phi Thân, Phi Tâm; Tự nó ra ngoài tất cả những gì chúng ta gán ghép cho nó.

- Nó là "Vô Thân", vì Vô Thân mà "Đại Thân"

- Nó là "Vô Tâm", vì Vô Tâm mà "Đại Tâm"

- Kinh Kim Cương, Phật dạy "Phi Thân, thị danh Đại Thân" là vậy.

-- Vì Đại Tâm thì cùng khắp Vũ Trụ Vạn Vật

-- Vì Đại Thân thì ứng dụng đầy đủ vẹn toàn

- Nếu chúng ta chấp Thân là Thân Thật thì mất Đại Ứng Dụng

- Nếu chúng ta chấp Tâm là Tâm Thật thì mất Đại Trí.,

Do đó nếu lìa được Thân Tâm, phá mọi Tri Kiến (Thấy Biết là Kiến, Văn, Giác, Tri) của phàm phu thì mới vào được cái "Chân Tính". Là cái Đại Thân, Đại Tâm, Đại Trí cũng là Đại Đạo.

Để rõ hơn về "Đại Đạo" chúng ta tạm ví như Người Thợ Bạc gom góp hỗn hợp nhiều miếng vàng to nhỏ, hình tướng khác nhau đem bỏ chung vào một cái lò mà rèn đúc các thứ ấy thành một bức tượng bằng vàng tức là "Đại". Vậy các miếng vàng ấy dù to, dù nhỏ, dù trong hình tướng nào chăng nữa trông có khác nhau vì hình dạng nhưng cái Bản Thể chung của chúng đồng đều là vàng cả nên còn gọi là "Dung Tướng" tức nhiều Tướng Dung Hợp thành Một Thể, thành "Nhất Thể".

Cũng thế ấy trong lò đúc Đại Đạo của Tạo Hóa, Vũ Trụ Vạn Vật cũng có muôn ngàn sai biệt, đồ dùng hữu dụng cho Đời, được chế biến vô cùng, vô tận với muôn ngàn biệt sai khi Thành, khi Trụ, khi Hoại, khi Không nhưng Bản Thể hay Thể Tính của chúng vẫn chẳng thêm, chẳng bớt.

Thật quả đúng : 

- Một là Tất Cả, Tất Cả là Một

- Một là Muôn Ngàn Sai Biệt, Muôn Ngàn Sai Biệt là Một

- Ngàn Sóng là Biển, Biển là Ngàn Sóng

- Tính, Tướng Như  Như

- Tính, Tướng Thường Trụ

- Do công dụng của Nhất Pháp, Nhất Thừa, Phật Thừa mà thành tựu Vạn Tượng.

- Cũng lẽ đó mà Kinh nói:

"Sum La Cập Vạn Lượng, Nhất Pháp Chi Sở Ấn".

tức Muôn Loài, Muôn Vật chỉ là Một Pháp, là Tự Tính, là Bản Thể  gồm đủ Vạn Hữu là thế, nó là Nhất Thừa, là Phật Thừa, là Phật Tính bình đẳng, Phật/Chúng Sinh Bất Nhị, Vô Ngôn, Vô Thuyết, mênh mông khó lường, khó bàn, khó nghĩ. Tất cả Viên mãn, từ cây cỏ, muỗi mòng cho đến một hạt bụi, một Lân Hư Trần v…v…đều từ Nhất Thừa hay Phật Thừa mà ra cả.   

- Nếu hiểu được là người có Pháp Nhãn Bát Nhã đã sáng tỏ mới thông suốt được "Nhất Thừa", cũng là "Đại Đạo".

- Vì vậy mà Kinh nói: Nếu hiểu thấu được, thấy được "Chân Nhất", "Tri Nhất" thì mọi việc đều xong, có nghĩa là thâm nhập được Tự Tính, ôm Tự Tính ấy mà Tái Sinh, chẳng chút Vọng Tưởng gì thì tự động là Bậc Thánh.

- Còn người chưa thấu rõ thì hay tin Tà, Dị Đoan, Chính Tín của người ấy rất yếu vì còn nhiều chấp chước nên bị kẹt và Diệu Lý khó thâm nhập, vì họ luôn luôn có Vọng Nhị Kiến (Kiến, Văn, Giác, Tri) gọi là Vọng Tâm, Vọng Kiến nên ngược với Chân Lý.

-  Ví như người ở trong Kho chứa nhiều thứ làm bằng Vàng, họ chỉ thấy các hình tướng của những thứ đồ làm bằng vàng như: thấy Vòng Vàng, Giây Chuyền Vàng, Bông Tai Vàng nhưng họ không thấy được cái Bản Thể của những thứ ấy luôn luôn là Vàng. Vọng Niệm của họ luôn khởi đủ thứ Tri Kiến phân biệt Hình Tướng:  Đẹp/Xấu, Thật/Giả, nên đã không thấy được cái Bản Chất của Vàng để tự làm mất đi cái Bản Thể của Vàng mà chỉ sống với sự luận bàn tranh cãi phân biệt  v…v…

Đó là Phàm Phu Mê Muội đã lạc mất Bản Tính nên chỉ Chấp Tâm,          Chấp Tướng, chấp cảnh, chấp  đủ thứ sai biệt điên đảo để rồi trôi  lăn mà thọ hết Thân này đến Thân khác.

Chúng ta chấp Hữu Tướng, trân quí Hữu Tướng, sợ Vô Tướng là vì chấp cái Thân này Là Thật, nên quí trọng nó và muốn sống mãi, sợ nó chết là bị đi vào cái Vô Tướng, nên rất sợ Vô Tướng! 

Còn người có Tu Hành mà chưa rốt ráo thì lại chấp Vô Tướng, rất sợ Hữu Tướng! Là vì không hiểu rõ Chân Thật Nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh nên đã coi khinh, coi rẽ cái Thân cũng như nơi chúng ta đang hiện sống, vì chấp nó là Giả, là Huyễn Hóa nên coi thường nó, sợ nó, muốn hoàn toàn vứt nó đi để về nơi Vô Tướng, nơi gọi là Thiên Đường, là Cực Lạc mới cho là Vĩnh Cữu.

Có biết đâu rằng :

+ Hữu Tướng và Vô Tướng vốn Chẳng Khác

+ Sắc tức là Không, Không tức là Sắc

+ Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc

+ Chẳng phải dùng "Sắc" để diệt "Không", giống như nước đang chảy im lìm bị gió thổi mà thành bọt nước, nhưng "Bọt" ấy chính là "Nước", chẳng phải dùng "Bọt" ấy để diệt "Nước". Vì "Nước" và "Bọt" không khác nhau.

+ Cũng thế, không cần dùng "Không" để diệt "Sắc" như diệt "Bọt" thành "Nước" vì "Nước" Là "Bọt", "Bọt" là "Nước" rồi, chẳng phải lìa nước mới có Bọt. Cho nên "Không" vô tận thì "Sắc" cũng vô tận là vậy.

+ Người thích Hữu Tướng, sợ Vô Tướng vì họ chẳng biết Hữu Tướng tức là Vô Tướng.

+ Kẽ thích Vô Tướng sợ Hữu Tướng vì họ chẳng biết Vô Tướng tức là Tướng.

+ Thật ra thì Vô Tướng/Hữu Tướng đều trong Tự Tính mình, ngay nơi mình, ngay nơi chúng ta đang hiện sống.

- Nếu theo như Bửu Tạng Luận thì chúng ta sẽ có những suy tư và tự hỏi: Sau khi Phật Nhập Diệt thì hiện giờ Phật ở đâu" Phật hiện đang ở chỗ Vô Tướng hay sao"

- Những Vị đã Giác Ngộ, những Vị đã thâm nhập Chân Lý Giải Thoát, các Ngài hiện giờ ở đâu sau khi đã chết" Hay các Ngài cũng đang ở chỗ Vô Tướng"

- Thật ra mà nói thì các Vị Phật, các Vị đã Giác Ngộ chỉ là Thị Hiện Sống mà chẳng phải "Có", Chết mà chẳng phải "Không", các Ngài chẳng có Vọng Tâm lấy bỏ dù trải qua muôn ngàn Sinh Tử, mà chỉ tùy theo Pháp Tính tự nhiên chẳng hề nổi Ý Phân Biệt, ấy là chẳng Có Ngã/ Vô Ngã.

-  Còn Phàm Phu chúng ta thì ngược lại có Vọng Tưởng là Tâm Thức Si Mê nên tự sáng tạo đủ thứ Thấy Biết (Kiến, Văn, Giác, Tri) có biết đâu rằng Tự Tính vốn Vô Danh mà chúng ta gán tên nơi Vô Danh, Tự Tính vốn Vô Tướng mà chúng ta gán tên nơi Vô Tướng cho nên các "Danh", các "Tướng" ấy đã lỡ bị tạo lập thì Vọng Tưởng do đó mà sinh, để rồi Phật Tính bị chôn vùi, Đại Đạo bị ẩn khuất.

- Do những lẽ trên đây xin mời tất cả chúng ta cùng suy tư!

- Nếu quả thật các Vị Phật cũng như các Vị đã Giác Ngộ sau khi Chết, các Ngài hiện đang ở nơi Vô Tướng tức nơi Chân Không Diệu Hữu không dính dáng gì với Thế Gian này thì đi ngược lại với Bửu Tạng Luận và những lời dậy của Đại Sư Tăng Triệu cũng như những Kinh sau đây do chính Đức Phật và các Tổ đã thuyết:

- Kinh nói : Phật Pháp không rời Thế Gian Pháp

- Bát Nhã Tâm Kinh:

"Sắc Chính Là Không, Không Chính Là Sắc"

"Sắc Chẳng Khác Không, Không Chẳng Khác Sắc"

(Vũ Trụ Vạn Vật này toàn là Sắc, toàn là Không;

Thì đúng là Phật Pháp không rời Thế Gian Pháp)

- Lăng Nghiêm Kinh:

"Tính là Tướng, Tướng là Tính"

"Vô Tướng là Hữu Tướng, Hữu Tướng là Vô Tướng"

( Vậy Vũ Trụ Vạn vật toàn là Hữu Tướng, và toàn là Vô Tướng;      Thì cũng vậy: "Phật Pháp không rời Thế Gian Pháp")

- Pháp Hoa Kinh:

"Cảnh Vốn Tự Không, Đâu Cần Hoại Tướng"

Vũ Trụ Vạn Vật này toàn là "Tướng" nhưng không cần phải hủy  hoại nó đi rồi mới thấy là "Không Có Tướng",  ( Y chang nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh  vậy: "Phật Pháp cũng không  rời Thế Gian Pháp") .

- Duy Ma Cật Kinh:

Các Sắc tự chúng đã là Không chẳng chờ Sắc diệt rồi mới là  Không, Tính của các Sắc tự Không, Ngũ Uẩn cũng y vậy, thì các  Căn ( Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân,Ý) và các Trần (Sắc, Thanh, hương, Vị, Xúc, Pháp) là Thế Giới Vũ Trụ Vạn vật này cũng y  như thế.

Vậy thì "Phật Pháp có rời Thế Gian Pháp đâu" ") .

- Pháp Bảo Đàn Kinh : Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng:

"Chân Như Tính, Phật Tính, Pháp Giới Tính".

Nếu đã gọi là "Tính" thì tự nó khởi Niệm, nhưng là "Chân Như Niệm" không do Nhân Duyên mà có, tức là không có đối đãi như Vọng Tâm Thức Phân Biệt của Chúng Sinh, Tổ nói tiếp: "Nếu không có cái "Tính" ấy thì tất cả các Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) và tất cả các Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) đều bị Hoại ngay lập tức.

Cho nên:

-- Không có Chúng Sinh thì không có Phật

-- Không có Con Người thì không có Kinh Sách

-- Và nếu chẳng có con người thì Vạn Pháp Vốn  Chẳng Tự Có được.

Vậy thì Phật Pháp Làm Sao Mà Rời Được Thế Gian Pháp"

Ghi Chú:

Tự Tính cùng khắp, Siêu Việt số lượng thời gian, không gian,  chẳng Một, chẳng Hai, chẳng Ba, chẳng thể suy xét, chẳng thể  nghĩ bàn, chẳng thể phán đoán

Tất cả những danh từ trong bài này: Giả/Chân, Sống/Chết,  Đại/Tiểu, Hoại/Thành v...v...đều là phương tiện, đều là giả danh.

(LTS: Ni sư Thích Nữ Chân Thiền là Viện Chủ Thiền Viện Sùng Nghiêm, nơi có các sinh hoạt sau. Lớp Miễn Phí vào Chủ Nhật:

1./ Lớp Việt Ngữ  - Với các Cô: Mai, Nga, Diệu Tánh, Quyên, Vân, Loan hướng dẫn.

2./ Lớp Thiền Người Lớn: Với các Sư và các Thành Viên của Thiền Viện đảm trách.

3./ Lớp Thiền Thiếu Nhi (nt) 

4./ Lớp Yoga. GS Dean Mander

5./ Lớp Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật. Do Nhiếp Ảnh Gia Phí văn Trung và Ban Giảng Huấn.

6./ Lớp Dạy Kèm "After School".

Thiền Viện Sùng Nghiêm, 11561 Magnolia St., Garden Grove, CA 92841. Tel: (714) 636-0118)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phát biểu của nhà thơ Trịnh Y Thư nhân dịp mừng thượng thọ, sinh nhật thứ 90 của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, hôm 10 tháng 6 năm 2023 tại Orange County.
Kể từ khi Putin xua quân xâm lược Ukraine ngày 24/2/2022, những vùng đất quân Nga xâm chiếm đã xảy ra những thảm cảnh vô cùng bi đát như cướp của, hãm hiếp phụ nữ rất man rợ! Những hình ảnh đó được loan tải trên hệ thống truyền thông, hầu hết các quốc gia trên thế giới lên án sự tàn ác, vô luân của quân Nga. Nhân đây, đề cập đến tác phẩm Giờ Thứ 25, cách đây hơn bảy thập niên, nhà văn Virgil Gheorghiu đã mô tả thú tính xác thịt của bọn quân xâm lược hãm hiếp phụ nữ thời đó và hiện nay man rợ như nhau...
Trong bài viết này, tôi sẽ tìm hiểu về cách ăn uống của Đạo Phật – những qui định, tầm quan trọng, tượng trưng, và những lý do ẩn sau những nguyên tắc này...
Vào mùa thu năm 1988, ban tổ chức một hội nghị ở Hong Kong đã mời vợ chồng tôi đến để diễn thuyết về lòng tự tin và hiệu lực tối đa của đức tính này. Vì đây là lần đầu tiên chúng tôi đến miền Viễn Đông, nên chúng tôi quyết định thực hiện chuyến đi dài hơn và đến viếng Thái Lan...
Chiều Chủ Nhật 21/5 vừa qua chương trình nhạc “Tôi vẽ đời em: dòng nhạc Trần Hải Sâm” đã diễn ra trên sân khấu Elizabeth A. Hangs tại Santa Clara Convention Center với sự tham dự của gần 700 khán giả yêu thích văn nghệ vùng San Jose, trung tâm sinh hoạt văn hoá của người Việt ở miền bắc California...
Trong hai thập niên (1954-1975) về lãnh vực âm nhạc ở miền Nam Việt Nam rất nhiều ca khúc ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng và sự ngưỡng mộ, biết ơn người lính VNCH...
Mẩu đối thoại trên là của chàng thanh niên 27 tuổi là Ralph White với nhân viên Đại sứ quán Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975 của miền Nam Việt Nam trong cuốn hồi ký Thoát Khỏi Sài Gòn (Getting Out of Saigon) của ông vừa được nhà xuất bản Simon and Schuster phát hành...
Làm sao để có được cuộc sống bình an hạnh phúc là mối quan tâm, là điều ước mơ chính đáng của mọi người, Đông phương hay Tây phương, Bắc hay Nam, giàu hay nghèo, đều có giấc mơ chung đó. Sở dĩ chúng ta có cuộc sống không được bình an hạnh phúc là vì chúng ta có tầm nhìn sai, nhận thức sai, về cuộc sống hiện tại của chúng ta. Từ tầm nhìn sai lầm này, đã đưa chúng ta đến lối sống không đúng, không phù hợp với giá trị của thực tế của cuộc sống chúng ta đang có. Do đó đã gây ra lo âu, phiền não triền miên cho ta...
Nhiều năm trước, tôi có tham dự buổi ra mắt tác phẩm Mouring Headband For Hue của nhà văn Nhã Ca tại Toronto. Nghe danh Nhã Ca-Trần Dạ Từ đã lâu từ trong nước mãi đến nay tôi mới gặp cả hai ông bà. Mouring Headband For Hue do giáo sư Sử học, Tiến sĩ Olga Dror thuộc Đại học Texas A&M University chuyển ngữ từ tác phẩm Giải Khăn Sô Cho Huế, tập hồi ký của Nhã Ca in tại Sài Gòn 1969, được Giải Văn Chương Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa năm 1970...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.