Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Minh Tâm, Kiến Tính

31/03/202509:07:00(Xem: 3469)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Minh Tâm, Kiến Tính
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích một đoạn văn nói về lời dạy về minh tâm và kiến tính, ghi trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm.
 

Nơi đây, chúng ta chụp lại từ bản PDF nửa cuối trang 213, và hai dòng đầu trang 214 của sách nêu trên, ghi lời vị sư tên là Hải Hòa, trích:


blank

  

Đánh máy lại sẽ như sau:

“...đường xằng bậy, sa vào cái hố tội ác. Kẻ nào triển miên ân ái thì mãi mãi không tìm ra đường giải thoát; kẻ nào đắm đuối danh lợi thì đau đớn quằn quại trong vòng nước sôi lửa bỏng, luôn sống trong cảnh phiền não lo âu, vô hình chung sa xuống địa ngục, vượt không khỏi, chạy không thoát. Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni rủ lòng thương xót, dạy cho người ta minh tâm, kiến tính. Khi người ta được minh tâm thì tâm vốn là hư không, khi người ta được kiến tính thì tính không dựa dẫm nữa. Trong thế gian, hết thảy mọi sự mọi vật, đều được coi là bình đẳng, tinh tiến không bao giờ lơi, thì thành được Phật đạo. Không nhơ không sạch, không thêm không bớt, lia hẳn được mọi nỗi khổ đau, đó là cái pháp môn cao bậc nhất để phá địa ngục.” (hết trích)
 

Tóm tắt như sau: Đức Phật dạy pháp giải thoát là hãy soi cho sáng tâm thì sẽ thấy được tính của tâm. Người xưa thường gọi tắt là Thấy Tánh, hay Thấy Tính. Lời dạy giải thích thêm rằng, khi tâm sáng rồi, sẽ thấy tâm vốn là hư không, vì như thế, tính của tâm không nương dựa bất kỳ những gì nữa. Trong cái rỗng rang, cái Tánh Không của tâm đã bật sáng, thì tất cả mọi thứ đều bình đẳng, thường trực tinh tiến quán sát như thế thì giải thoát. Pháp thấy tính này, tức là thấy cái Tánh Không đó, là soi thấy các thứ đều không có gì nhơ, không có gì sạch, không có gì thêm, không có gì bớt, lìa xa mọi khổ đau, và đây là pháp cao nhất để phá địa ngục.
 

Trong lịch sử Thiền Tông, chúng ta thấy một số trường hợp các vị sư nhìn vào tâm và thấy tất cả các hiện tướng trong tâm thực ra đều là Không.

Một trường hợp nổi tiếng ghi lại trong Thiền sử Trung Hoa là về nhà sư Huệ Khả (494 - 601), Sau một thời gian theo học Tổ Bồ Đề Đạt Ma, một hôm Huệ Khả tới thưa rằng: “Bạch Hoà thượng tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.”

Ngài Bồ Đề Đạt Ma nhìn vào Huệ Khả, nói: “Ngươi hãy đem tâm ngươi ra đây, ta sẽ an tâm ngươi cho.”

Ngài Huệ Khả tự nhìn vào tâm một chặp, rồi thưa: “Con tìm tâm không được.”

Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Ta đã an tâm ngươi rồi vậy.”

Từ đó, ngài Huệ Khả biết chỗ an tâm, thấy ngay nơi tâm vắng bặt các phiền não, xa lìa tham sân si.
 

Trở lại cuốn sách của ngài Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy rằng người tu hãy quán sát tâm để thấy Tánh Không của tâm, thì không còn gì để nương tựa, và tâm đó thì không nhơ, không sạch. Thiền Tông cũng từng có câu nói rằng: “Khi đất tâm trở về Tánh Không, thì mặt trời trí tuệ sẽ chiếu sáng.”
 

Cổ đức khi nói về tâm này, cũng nói rằng nơi đây, không còn Phật và cũng không còn Ma nữa. Có nghĩa là, nơi tâm của giải thoát không còn vướng vào bất kỳ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào nữa. Chư tổ thường dạy cách vào bằng tánh nghe. Bạn thử chú tâm vào tiếng chim kêu, hay chú tâm nghe bất kỳ một ca khúc nào, bạn sẽ thấy trong cái được nghe hiển nhiên nó phải là Không, nên nó liên tục biến mất, vừa sanh là liền diệt, trong khi bạn nghe thì bạn một cách tự nhiên vô niệm, vì bạn không bám víu gì.
 

Hễ bạn đang nghe mà nghĩ ngợi, thì bạn sẽ mất đi cái thực tại ở đây và bây giờ. Đó cũng là cái tâm Không của vô niệm. Đó cũng là lời Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được nghe là cái được nghe, và hãy để cái được thấy là cái được thấy, thì ngay đó là giải thoát. Không cần tu, không cần mài giũa gì nơi cái đang thấy và cái đang nghe đó, vì tự thân tâm bạn phải là Không, thì mới hiển lộ được những cái được nghe, cái được thấy.
 

Nếu bạn thấy khó nhận ra cái Tánh Không của tâm, thì bạn có thể quán sát theo nhiều lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy trong Kinh SA 265 rằng người tu hãy quán sát sắc như bọt nước, hãy quán sát thọ như bong bóng nước, hãy quán sát tưởng như quáng nắng xuân, hãy quán sát các hành như thân cây chuối và hãy quán sát thức như trò huyễn ảo. Như thế sẽ thấy tất cả không thật, không hề có cái gì gọi là cái tôi, hay cái của tôi.
 

Trong Kinh SA 335, Đức Phật dạy bài Kinh về Đệ nhất nghĩa không. Ngài nói rằng các pháp liên tục biến đổi theo vô lượng duyên mà hiện ra rồi biến mất, thấy liên tục như thế là sẽ thoát khổ, vì không còn bám víu gì nữa trong ba cõi, sáu đường. Kinh SA 335, bản dịch của hai thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng như sau, trích:
 

Thế nào là kinh Đệ nhất nghĩa không? Này các Tỳ-kheo, khi mắt sanh thì nó không có chỗ đến; lúc diệt thì nó không có chỗ đi. Như vậy mắt chẳng thật sanh, sanh rồi diệt mất; có nghiệp báo mà không tác giả. Ấm này diệt rồi, ấm khác tương tục, trừ pháp tục số. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy, trừ pháp tục số.

“Pháp tục số, tức là nói, cái này có thì cái kia có, cái này khởi thì cái kia khởi, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, nói chi tiết đầy đủ cho đến thuần một khối khổ lớn tập khởi. Lại nữa, cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt, vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt. Như vậy, nói rộng cho đến thuần một khối khổ lớn tụ diệt. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là kinh Đệ nhất nghĩa không.”
 

Kinh SA 301 do Đức Phật dạy cũng chỉ rõ về Tánh Không của các pháp. Kinh này gợi nhớ tới bài Bát Nhã Tâm Kinh, nơi thực tướng là Tánh Không, nhưng không có nghĩa là cái không của hư vô luận, cũng không phải là cái có của thường hằng luận. Nơi thực tướng Không là nơi dung chứa tất cả thế giới này một cách bình đẳng. Y hệt như nước biển dung chứa tất cả các bọt nước, chỉ vào bọt nước thì nói là Không, chỉ vào tánh ướt thì nói là Có, chỉ vào trung đạo thì không có lời nào để nói nữa.
 

Kinh SA 301 ghi rằng, sau khi nghe Đức Phật dạy xong, ngài Ca-chiên-diên tức khắc trở thành A La Hán, xa lìa tất cả tham sân si. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng trích như sau:
 

Phật bảo Tán-đà Ca-chiên-diên: ‘Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không. Nếu không có chấp thủ này vốn là kết sử hệ lụy của tâm và cảnh; nếu không thủ, không trụ, không còn chấp ngã, thì khi khổ sanh là sanh, khổ diệt là diệt, đối với việc này không nghi, không hoặc, không do người khác mà tự biết; đó gọi là chánh kiến. Đó gọi là chánh kiến do Như Lai thi thiết. Vì sao? Thế gian tập khởi, bằng chánh trí mà quán sát như thật, thì thế gian này không phải là không. Thế gian diệt, bằng chánh trí mà thấy như thật, thế gian này không phải là có. Đó gọi là lìa hai bên, nói pháp theo Trung đạo. Nghĩa là, ‘Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi; tức là, duyên vô minh nên có hành,… cho đến, thuần một khối khổ lớn. Do vô minh diệt nên hành diệt,… cho đến, thuần một khối khổ lớn diệt.’”

Phật nói kinh này xong, Tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên nghe những gì Phật đã dạy, chẳng khởi các lậu, tâm được giải thoát, thành A-la-hán.”
 

Đối chiếu với lời Đức Phật dạy trong các kinh dẫn trên, chúng ta thấy rằng Thiền Tông Việt Nam với các lời dạy trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là pháp trực chỉ, không mượn bất kỳ phương tiện nào, chỉ thẳng vào thực tướng của tâm là Tánh Không, nơi đó sẽ không còn gì bám víu được. Người tu chỉ cần bảo nhậm cái thấy và cái nghe thường trực đó, nơi đó các pháp tự hiển lộ tánh vô thường, vô ngã, hư ảo không ngừng. Nơi đó, không có lời để nói, vì ngôn ngữ là kết quả của những cái hôm qua, trong khi tất cả những cái thấy, cái nghe của người tu là thường trực tự làm mới không ngừng.


.... o ....
 

Reading Ngô Thì Nhậm: Enlighten the mind and perceive its essence
 

Written and translated by Nguyên Giác

  

This article will analyze a passage about the teachings on enlightening the mind and perceiving its essence, as recorded in the book Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, a significant work on Vietnamese Zen Buddhism first published in 1796. This text was printed in "Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V", published in 2006 in Hanoi, and has been translated by various authors from the Viện Nghiên Cứu Hán Nôm.
 

The teachings in this book reflect the principles of Vietnamese Zen Buddhism. After leaving his official position, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) became a monk known as Hải Lượng Thiền Sư and was revered by many as the Fourth Patriarch of the Trúc Lâm Zen Sect.
 

Here, we capture an image from the PDF version of the latter half of page 213 and the first two lines of page 214 of the aforementioned book, documenting the words of the monk named Hải Hòa.

 

It would appear as follows: “...the path of confusion, falling into the pit of sin. Those who indulge in lust will never find a path to liberation; those who chase fame and fortune will suffer in the molten waters, perpetually living in a state of anxiety and worry, unconsciously descending into hell, unable to escape. Therefore, Buddha Shakyamuni, out of compassion, taught people to enlighten their minds and to perceive the essence of their thoughts. When one achieves enlightenment, the mind is initially empty. In this state, there is no reliance on anything. In the realm of existence, all things are regarded as equal in the emptiness of the mind. If one remains diligent in their efforts, they will attain Buddhahood. Within the essence of a mind that is empty, there is neither defilement nor purity, neither increase nor decrease. All suffering can be entirely eradicated. This represents the highest method for transcending hell." (end of quote)
 

We can summarize the teachings as follows: The Buddha taught that the method of liberation involves illuminating the mind to understand its true nature. The ancients often referred to this as perceiving the essence of the mind. The teachings further explain that when the mind is enlightened, it becomes evident that the mind is inherently empty. This realization indicates that the nature of the mind does not depend on anything external. In the illuminated emptiness of the mind, all things are equal. By consistently observing this state with diligence, one can attain liberation. The method of perceiving this nature—recognizing that emptiness—reveals that all things are neither dirty nor clean, neither added to nor diminished, and are free from all suffering. This understanding represents the highest path to transcending hell.
 

In the history of Zen, there are numerous instances where monks examined their minds and realized that all the thoughts and images within were, in fact, manifestations of emptiness.

A famous case recorded in Chinese Zen history involves the monk Hui Ke (494-601). After studying with Bodhidharma for some time, Hui Ke approached him one day and said, "Venerable Sir, my mind is not at peace. Please teach me the method to calm my mind."

Bodhidharma looked at Hui Ke and said, “Bring your mind here, and I will calm it.”

Huike contemplated for a moment and then said, “I cannot find my mind.”

Bodhidharma stated, “I have already calmed your mind.”

From that moment on, Huike understood how to calm his mind and immediately recognized that it was free from afflictions, distant from greed, anger, and ignorance.
 

Returning to the work of Ngô Thì Nhậm, we find that the practitioner should observe the mind in order to perceive its emptiness. In this state, there is nothing to cling to, and the mind is neither tainted nor pure. The Zen tradition also states, "When the mind's foundation returns to emptiness, the sun of wisdom will shine."
 

When the ancients spoke of the mind, they asserted that in this state, there is neither Buddha nor Mara. In other words, within the mind of liberation, there is no entanglement with any form, feeling, perception, action, or consciousness. The patriarchs often taught how to enter this state through the nature of hearing. Try focusing on the sound of a bird chirping or listening to any song. As it continuously fades away, you will notice that what you hear is, in essence, emptiness. As soon as a sound is born, it immediately ceases to exist. While you are listening, your mind becomes naturally thoughtless, as you would not cling to anything else.
 

Whenever you listen and think, you may lose touch with the present moment. This state reflects the emptiness of no-thought. It aligns with the teachings of the Buddha to Bahiya: allow what is heard to be simply what is heard, and permit what is seen to be merely what is seen; in doing so, liberation is found. There is no need for practice or to refine anything in the act of seeing and hearing, for your own mind must embody emptiness. Only then can what is heard and what is seen be fully revealed.
 

If you find it challenging to grasp the concept of the mind's emptiness, you can reflect on various teachings of the Buddha. In Sutta SA 265, the Buddha instructs practitioners to contemplate form as foam, feelings as bubbles, perceptions as a ray of sunlight in spring, formations as banana tree trunks, and consciousness as an illusion. By doing so, you will come to understand that everything is transient and that the notions of self and possession are ultimately illusory.
 

In the SA 335 Sutra, the Buddha teaches about the ultimate truth of emptiness. He explains that all dharmas are in a state of constant change, influenced by countless causes and conditions, appearing and disappearing. Recognizing this continuous flux allows one to be free from suffering, as it eliminates attachment to anything within the three realms and six paths. The SA 335 Sutra, translated by Choong Mun-keat, is as follows:
 

What is the discourse on emptiness in its ultimate meaning?

“Monks, when the eye arises, there is no place from which it comes; when it ceases, there is no place to which it goes. Thus, the eye, being not real, arises; having arisen it ceases completely. It is a result of previous action but it has no doer.

“When these aggregates cease, other aggregates continue, with the exception of this transient dharma. It is the same with the ear, nose, tongue, body, and mind. They are exceptions to the transient dharma.

“The meaning of transient dharma is: Because this exists, that exists; because this arises, that arises, thus: Conditioned by ignorance are activities; conditioned by activities is consciousness, and so on … and thus arises this whole mass of suffering.

“And again, when this does not exist, that does not exist; when this ceases, that ceases. When ignorance ceases, activities cease; when activities cease, consciousness ceases, and so on …, and thus ceases this whole mass of suffering.

“Monks, this is called the discourse on emptiness in its ultimate meaning.”

.

The SA 301 Sutra, taught by the Buddha, clearly emphasizes the Emptiness of all dharmas. This sutra serves as a reminder of the Heart Sutra, which reveals that the true nature of reality is Emptiness. However, this does not imply a nihilistic void or the affirmation of eternalism. The true essence of Emptiness encompasses all aspects of the world equally. Just as the ocean contains countless bubbles, pointing to the bubbles represents Emptiness, while acknowledging the wet nature of the ocean signifies Existence. The middle way transcends these distinctions, leaving little more to be said.
 

The SA 301 Sutra records that, after listening to the Buddha's teachings, Katyāyana instantly attained Arahantship, becoming free from all greed, anger, and delusion. Choong Mun-keat's translation reads as follows:
 

The Buddha said to Katyāyana: “There are two bases to which people in the world are attached, to which they adhere: existence and non-existence. Because of their attachment and adherence, they are based on either existence or non-existence.

“In one who has no such attachment, bondage to the mental realm, there is no attachment to self, no dwelling in or setting store by self. Then, when suffering arises, it arises; and when it ceases, it ceases.

“If one does not doubt this, is not perplexed by it, if one knows it in oneself and not from others, this is called right view right view as established by the Tathāgata (the Buddha).

“Why is this? One who rightly sees and knows, as it really is, the arising of the world, does not hold to the non-existence of the world. One who rightly sees and knows, as it really is, the cessation (passing away) of the world, does not hold to the existence of the world.

“That is called avoiding the two extremes, and teaching the middle way, namely: Because this exists, that exists; because this arises, that arises. That is, conditioned by ignorance, activities arise, and so on …, and thus this whole mass of suffering arises. When ignorance ceases, activities cease, and so on …, and thus this whole mass of suffering ceases.”

When the Buddha had taught this discourse, the venerable Katyāyana, having heard what the Buddha had said, became freed of all influences, attained liberation of mind, and became an arahant.
 

When comparing the Buddha's teachings in the aforementioned sutras, we observe that Vietnamese Zen, as presented in the book Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, is a direct method that does not rely on any intermediaries. This approach points directly to the true nature of the mind, which is emptiness—an essence devoid of anything to cling to. The practitioner need only maintain a constant awareness of seeing and hearing, allowing the dharmas to naturally reveal their impermanent, non-self, and illusory nature without interruption. In this state, words become unnecessary, as language is merely a product of past experiences, while the practitioner's perception of seeing and hearing remains constant and continually renews itself.

.

THAM KHẢO / REFERENCE:

-- Kinh SA 265:

https://suttacentral.net/sa265/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa265/en/analayo

-- Kinh SA 335:

https://suttacentral.net/sa335/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa335/en/choong

-- Kinh SA 301:

https://suttacentral.net/sa301/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa301/en/choong

 

.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong khi Giáo hội Công giáo toàn cầu đang vật lộn với sự suy giảm nhiều về ơn gọi, Giáo hội tại Việt Nam lại đối mặt với một thách thức khác biệt: làm thế nào để biến số lượng thặng dư đông đảo linh mục thành những nhà truyền giáo thực thụ chứ không chỉ là những linh mục quản xứ đơn thuần.
Đại Gia Đình Huỳnh Tộc Tường Quang Phú Yên nhận được tin buồn: Ông HUỲNH QUANG HIỂN nguyên Trưởng Tộc Huỳnh Tộc Tường Quang vừa vãng sinh vào ngày thứ hảy 31 tháng 01 năm 2026 tại Toronto, Canada. Hưởng thọ 75 tuổi
Tối cao Pháp viện hôm thứ Tư ra một lệnh vắn tắt, cho phép tiểu bang California sử dụng bản đồ đơn vị bầu cử Hạ viện liên bang mới, vốn đã được cử tri thông qua hồi năm ngoái, được coi như một thắng lợi lớn cho đảng Dân Chủ trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ 2026. Bản đồ này do các dân biểu Dân Chủ tại Sacramento soạn thảo và được chuẩn y qua đề án lá phiếu Proposition 50, giúp Dân Chủ trông thêm đến năm ghế dân biểu khi tìm cách giành lại đa số tại Hạ viện.
• Công Tố Viên Gốc Việt Bị Ngưng Nhiệm Vụ Sau Phát Biểu Chấn Động Tòa Di Trú • Vì Sao Chú Ngựa Bính Ngọ Bị Lỗi Trở Nên Nổi Tiếng? • Chính Quyền Trump Rút 700 Đặc Vụ Liên Bang Khỏi Minnesota • Washington Post Sa Thải Hàng Trăm Ký Giả • Trump Tiếp Tục Đòi ‘Quốc Hữu Hóa’ Bầu Cử • Fulton County Đòi FBI Trả Lại Hồ Sơ Bầu Cử 2020 • Chính Phủ Anh Hành Động Khi Cựu Đại Sứ Tại Mỹ Có Tên Trong Hồ Sơ Epstein • Melinda Gates: ‘Một Nỗi Buồn Không Thể Tin Được’ • Tượng "Thiên Thần (Thủ Tướng Ý) Meloni" Bị Xóa Khỏi Nhà Thờ Ở Rome • Trung Quốc Đe Dọa Sau Phán Quyết Về Kênh Đào Panama
Những người soạn Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) không chú ý nhiều về Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, trong khi Tự Điển này là nơi được người học Phật tham khảo nhiều nhất, mỗi khi có thắc mắc, bất kể rằng tính xác thực của Wikipedia có khi không chính xác, bởi vì bất kỳ ai giỏi về kỹ thuật vi tính đều có quyền góp ý trên đó. Bài này sẽ tìm thêm một số thông tin liên hệ về kỳ Kết tập này, và người viết (tự thấy học lực chẳng bao nhiêu) nơi đây sẽ không dám đưa vào bình luận theo bất kỳ ý riêng nào. Tất cả các liên kết mạng sẽ ghi cuối bài để người học Phật khảo sát thêm.
Richmond, Virginia, 3-2 – Trưa thứ Hai, các trục đường quanh Quốc hội tiểu bang Virginia bỗng đông nghịt người, không phải vì một cuộc vận động chính trị, mà để tận mắt chứng kiến đoàn 19 nhà sư áo cà-sa màu cam lặng lẽ đi bộ qua trung tâm thành phố, đánh dấu ngày thứ 100 của hành trình “Walk for Peace” từ Texas hướng về Hoa Thịnh Đốn. Theo ước tính của văn phòng thị trưởng, khoảng mười ngàn người đứng kín hai bên đường, từ khu vực Quốc hội tiểu bang đến Tòa thị chính Richmond, bất chấp gió lạnh và những mảng băng còn đọng trên lề phố. Cảnh sát tạm phong tỏa một số giao lộ lớn, tháp tùng đoàn sư đi lên dốc Ninth Street. Thỉnh thoảng, vài cảnh sát viên bước ra trao tận tay các vị sư những bó hoa nhỏ, giữa tiếng người trên vỉa hè vang lên những lời chào giản dị: “we love you”, “thank you”. Cuộc đi bộ vì hòa bình dài chừng 2.300 dặm, dự trù kéo dài 120 ngày, khởi hành từ vùng Fort Worth, Texas. Đến nay, đoàn đã băng qua tám tiểu bang và chỉ còn chưa đầy 200 dặm trước khi tới thủ đô.
Báo Independent hôm 3/2/2026 loan bản tin "‘Don Colossus’ — a 22-foot tall Golden statue of Trump — is set to rise where US will host world leaders for G20" (‘Don Colossus’ — bức tượng vàng cao 22 feet của Trump — dự kiến ​​sẽ được dựng lên tại nơi Mỹ sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh G20).
Một bát, ba y ngàn dặm xa (*) / Lạnh cắt tiết đông rảo muôn nhà / Chạm đất chân đau niềm nhân thế / Chạnh lòng du tử mở đường qua
Các nhà sư đi bộ vì hòa bình gởi đến mọi người trên đất Mỹ thông điệp từ bi, cảm thông, bao dung, hòa bình. Những bước chân hòa bình hiện thực hóa thông điệp của đức Phật từ 26 thế kỷ trước. Những bước chân hòa bình chính là thân giáo, noi theo con đường đức Phật đã khai phá và đã đi trong quá khứ.
Tuyên bố của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam và Người Bảo vệ Nhân quyền ngày 3 tháng 2 năm 2026 về việc Hà Nội đàn áp người bảo vệ nhân quyền và nhà báo ở hải ngoại Ngày 30 tháng 1 năm 2026, Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng với tội danh “khủng bố” theo Điều 299 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chính quyền cáo buộc ông “chỉ đạo, xúi giục và hỗ trợ” Y Quynh Bdap hướng dẫn một số cá nhân trong nước thực hiện các hành vi khủng bố và giết người liên quan đến các vụ tấn công ngày 11 tháng 6 năm 2023 tạitỉnh Đắk Lắk.
Làm thế nào để cứu được nền dân chủ ở Hoa Kỳ, trong khi Trump tàn bạo chà đạp Hiến Pháp? Làm thế nào quyền dân và quyền người của công dân Hoa Kỳ được tôn trọng trong khi Trump chà đạp mọi quy ước văn minh Hoa Kỳ từng nêu lên để làm lý tưởng? Nhà nghiên cứu William S. Becker viết bài tựa đề "Forget Project 2025 — Trump is following King George’s playbook" (Hãy quên Dự án 2025 đi — Trump đang đi theo chiến lược của Vua George
• Hình Của Thị Trưởng New York Và Epstein Là Do AI Tạo Ra • Tài Liệu Nội Bộ Tiết Lộ Việt Nam Đang Chuẩn Bị Cho Cuộc Chiến Xâm Lược Của Mỹ • Hôm Nay Là Phép Thử Cho Lòng Trung Thành Của Cộng Hòa Dành Cho Trump • Kế Hoạch $45 Tỷ Mở Rộng Trại Giam Di Dân Của Trump Gặp Trở Ngại Từ Cộng Đồng Địa Phương • Làm Sao Kiện Khi Bị Đặc Vụ ICE Lạm Dụng Quyền Lực? • DOJ Gỡ Hàng Ngàn Hồ Sơ Epstein Khỏi Trang Web Vì Lộ Danh Tính Nạn Nhân • Vợ Chồng Clinton Đồng ý Điều Trần Vụ Epstein • Chánh Án Bỏ Lệnh Ngăn DHS Tiêu Hủy Bằng Chứng Vụ Bắn Ở Minneapolis • Trump Ngang Nhiên Đòi Harvard Trả $1 Tỷ Đô La Tiền Kiện Tụng • Cựu Xướng Ngôn Viên CNN Don Lemon Từng Đề Nghị Gặp Bộ Tư Pháp • Fulton County, Georgia Kiện FBI Và DHS Đã Thu Giữ Hàng Trăm Thùng Phiếu Bầu • Cảnh Sát Đột Kích Nhà Ở Pháp Của Elon Musk
Bản tin sau đây là của AP ngày 2/2/2026, cho biết chính phủ Hà Nội đã lên một kế hoạch phòng thủ vì tin rằng chính phủ Mỹ sẽ khởi động chiến tranh để chiếm Việt Nam. Bản tin AP của 2 phóng viên David Rising và Aniruddha có tựa đề "An internal document shows the Vietnamese military preparing for a possible American war"
Bạn biết rồi. Phụ nữ tại Hoa Kỳ thường đổi tên, khi lấy chồng. Và thường khi, nhiều giấy tờ chưa kịp đổi theo, hoặc sau khi ly dị, nhiều người giận chồng tới mức muốn đổi về tên cũ, hoặc thời gian sau sẽ đổi theo họ của chồng mới (bạn biết rồi, chuyện ly dị là bình thường ở Mỹ, có những người phụ nữ phản ứng rất nhanh nhẹn)... Chỉ vì sơ hở, họ có thể bị Cộng Hòa quăng bỏ lá phiếu, nếu không chứng minh đủ giấy tờ cho các tên họ như thế.
- Tô Lâm: VN luôn đoàn kết, ủng hộ và sát cánh cùng Cuba, kêu gọi bỏ cấm vận Cuba, hứa giúp Cuba tự chủ lương thực (có lẽ sẽ nhờ kiều dân Cuba gửi tiền cứu Cuba?) - Tổng thống Mexico: tạm ngưng chở dầu tới Cuba, nhưng sẽ chở thực phẩm và viện trợ nhân đạo cho Cuba (bất kể Trump trù dập). Hy vọng chở dầu tới Cuba qua đường ngoại giao - Dẹp bỏ lời Trump chỉ trích: Thủ tướng Anh Keir Starmer nói hợp tác với TQ vì lợi ích quốc gia, lên án chính phủ Anh tiền nhiệm bỏ lỡ 8 năm không kết thân với TQ - Trump đánh thuế quan tứ phía, dọa áp thuế 50% với phi cơ từ Canada, sau khi dọa áp thuế 100% nếu Canada ký thương mại với TQ, dọa áp thuế Mexico nếu cứ gửi dầu tới Cuba, áp thuế Nam Hàn lên 25% từ mức 10% - Báo Daily Mail: Epstein gài bẫy tình cho tình báo Nga và có thể cho cả Israel (vì bố của cô Ghislaine Maxwell là gián điệp đôi cho Israel-Nga. Serbia nghi Mỹ sắp dội bom Iran để tin về Epstein bị quên đi. - LS của 200 nạn nhân của Epstein xin tòa khẩn cấp buộc Bộ Tư pháp gỡ bỏ trang web
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.