Hôm nay,  

Qua Cửa Tử

01/05/202009:03:00(Xem: 3954)

 


  Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân. Thỉnh thoảng có tiếng rên:

 - Nước, cho tui chút nước. 

 Không có tiếng trả lời, người hỏi cũng thừa biết là không còn một giọt nào trên tàu cả, nhưng vì bản năng sống nên thốt lên trong vô thức. Con bé Tư mười sáu tuổi mà quắt queo khô đét như con mắn mòi, hai mắt trắng dã, tay chân lèo khèo, chiếc quần ngắn cũn cỡn nửa ống quyển, cái áo bà ba nhăm nheo trông nó như mới lên mười. Nó nằm bẹp dí trong hầm, miệng thều thào:

 - Má, con khát quá! 

 Chị Thắm, mẹ con bé cõi lòng tan nát, đau đớn muốn khóc mà lệ dường như khô theo cơn khát, người khô hết lấy đâu ra nước mà chảy nước mắt

 - Ráng chút nữa nha con, tới đảo mình tha hồ uống.

 Con tàu chết máy trôi giạt đã mấy ngày nay, chẳng ai còn lòng dạ nào mà đếm thời gian nữa. Con tàu bị lạc vào dòng nghịch lưu, cộng với gió cứ thế đẩy đưa càng lúc càng xa về hướng nam. Trên thì bầu trời thăm thẳm, dưới biển xanh đến độ thẫm đen, tưởng chừng như thấu tận địa ngục. Khi con thuyền vừa chạm phao số không, tài công la to:

 - Đến hải phận quốc tế rồi bà con ơi!

 Mọi người trên tàu mừng rỡ reo to:

 - Thoát rồi, thoát thật rồi! 

 Mới có mấy ngày mà giờ laị đối diện với địa ngục, cái chết vì đói, khát, tàu chìm đang cận kề gang tấc. Có người hối tiếc vì đã chọn ra đi:” Giá mà biết như vậy, thà ở laị chịu khổ cực nhưng không đến nỗi chết”. Trên tàu không còn một vụn bánh mì, một giọt nước nào. Có người khát quá, liều uống nước biển nhưng vừa hớp một ngụm là vội nhả ra ngay. Ông Hải quỳ mọp ở mạn tàu cầu khẩn:

 - Bồ Tát linh hiển, xin cứu chúng con qua cơn khổ nạn này, vào tới đảo con nguyện ăn chay hết tháng bảy âm lịch.

 Lời khấn nguyện khô khốc, âm thanh đứt quãng bị gió biển thổi át đi. Ngồi trên một đaị dương nước mà không có một giọt nước để uống, trong người còn thủ mấy chục cây vàng mà không có một chút đồ ăn để ăn, càng cám cảnh, càng nghĩ thì càng khốn quẫn. Ông Hải ôm đầu ngồi bệt trên sàn tàu, bây giờ có tiền cũng vô dụng, hồi nào trên bờ ông từng cao giọng:” Có tiền mua tiên cũng được, tiền là chià khoá mở mọi cánh cữa, tiền quyết định tất cả…”Ấy vậy mà giờ, trên con tàu này, tiền không khác chi mảnh giấy lộn, không ăn được, không uống được, chẳng có ích chi cả. Ông Hải thấm thía câu:” Diêm vương không ăn hối lộ, nhân quả chẳng nệ thân sơ, vô thường không chê quý tiện”. Vốn là một tay tài phiệt có tiếng của thành đô, tài sản của ông có khắp nơi, những hãng sản xuất ở Sài Gòn, Biên Hoà; những đồn điền cao su, thông ở Bình Long, Đà Lạt bạt ngàn; những tài khoản khổng lồ trong các nhà băng…và hàng chục ngàn công nhân ngày đêm làm việc không ngừng nghỉ. Ấy thế mà ông Hải rất chi li, đồng lương rẻ mạt mà còn luôn tìm cách thêm giờ, thêm việc, bớt phúc lợi. Ông đi đêm với các nghiệp đoàn và cảnh sát để khống chế các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân. Có khi căng quá thì ông cũng chịu nhả thêm tí chút, nhưng thói cằn bòn nó laị khiến ông tìm cách để lấy laị bằng những mánh khoé khác, ông có vô số mánh khoé để làm cho hầu bao của mình càng ngày càng phình to. Mỗi khi xã hội có hoạn nạn, thiên tai… cần cứu tế, ông cũng bỏ ra một số tiền, không bỏ ra thì không được vì sĩ diện nhưng ông lận vào đó quảng cáo cho tên tuổi hãng xưởng của ông. Người ta kháo nhau:” Lời chán, xem ra vừa cứu tế mà còn quảng cáo với giá rẻ”. Ông Hải thường nói với bọn đàn em:

 - Tiền liền khúc ruột, kiếm khó lắm nên không thể dùng vào những việc phước đức mơ hồ. Ta chỉ tin tiền đẻ ra tiền!

 Ông Hải là triệu phú của thành đô, xem ra cũng có nhiều phước báo, giữa lúc quốc gia loạn lạc chiến chinh mà công việc của ông vẫn xuôi chèo mát mái, cuộc chiến càng khốc liệt thì việc làm ăn laị càng lên như diều gặp gió. Thế rồi đùng một cái, cuộc chiến tàn, một nửa vui mừng và một nửa hoang mang sợ hãi lạc, chịu nhiều đau thương nghiệt ngã. Cuộc chiến tàn nhưng mở ra một cuộc chiến âm thầm khác, lòng người ly tán, xã hội nhiễu nhương đi vào suy sụp. Ông Hải cùng bao người khác tự nhiên sau một đêm ngủ dậy thì trắng tay, sản nghiệp bị tịch thu, nhà cửa, của cải bị lấy chia cho kẻ khác. Đau đớn tưởng chừng như có thể phát điên, bạn ông nhiều kẻ nhảy lầu. Ông Hải âm thầm chứ không dám hé lộ cùng ai, thời buổi tai vách mạch dừng, nói ra là mang vạ như chơi. Nếu ngày còn chủ cũ, hễ ai động đến một tí là ông mượn truyền thông la to:”Vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do cá nhân, tự do ngôn luận…” giờ thì im thin thít, những ngày tháng có miệng mà không dám nói, có tai mà như điếc, có mắt mà như đui. Người người lao mình ra biển tìm đường sống. Ông Hải móc nối được với một đường dây vượt biên, kẻ cò mồi biết ông giàu có nên hét giá: “ năm mươi lượng cho cả nhà”. Vốn có tài mặc cả, sau khi kì kèo hai bên chốt giá ba mươi lượng, giao trước mười lượng, phần còn laị sẽ giao sau khi lên tàu. Nửa đêm cả nhà theo người dẫn đường đi ra một bãi vắng Cần Giờ, nhìn con tàu cũ kỹ và nhỏ bé, ông đã ngần ngừ nhưng gã tài công hối thúc:

 - Lên lẹ đi, chậm chút là bị hốt hết bây giờ! 

Ông Hải và cả nhà lên tàu, bụng bảo dạ:” Ở cũng chết, đi cũng chết, thôi thì lao vào cửa tử tìm đường sống”. Xưa nay ông vẫn tự hào mình là người không ngoan, quyết định sáng suốt, thế mà giờ đành nhắm mắt đưa chân. Con tàu tắt đèn rù rì rẽ sóng trong màn đêm đen kịt. Mọi người dường như nín thở, lòng đầy lo lắng mãi cho đến khi gã tài công reo to tới phao số không thì mọi người mới thở phào, trút cả gánh lo âu. Nỗi mừng chưa được bao lâu thì ngày hôm sau một nỗi sợ hãi khác bao trùm con tàu. Con tàu cứ xành xạch tắt máy mấy bận. Gã tài công và tay thợ máy cởi trần hì hục sửa, sửa mãi hkông xong bèn chửi tục:

 - Đ… mẹ, con heo dầu laị trở chứng!

 Nhiều tiếng phàn nàn:

 - Sao không lo sửa trước khi khởi hành?

 Gã tài côngbực mình nạt:

 - Đ…mẹ, mấy người có ngon thì lái tàu đi! tui hổng lái nữa, ai chết biết liền.

 Chú Hai, người lớn tuổi nhất trên tàu ôn tồn:

 - Đừng nóng chú em, tiền vàng mọi người đóng sòng phẳng rồi, giờ chung một con tàu, sống chết có nhau. Bà con cũng đừng nói nữa, để chú ấy sửa máy. 

 Mọi người im lặng, họ biết số phận mình giờ nằm trong tay gã tài công nên không dám hó hé gì thêm.  Tiếng máy tàu laị xình xịch nổ, con tàu chạy được vài mươi hải lý nữa thì chết máy hẳn, tròng trành giữa sóng nước đaị dương. Cả con tàu râm ran rời khấn nguyện, cầu khẩn. Lòng ông Hải ngổn ngang bao nỗi sợ sệt suy tính, nếu ngày trước, mỗi khi đứng trước biển thì lòng khoan khoái dễ chịu, bao nhiêu bực dọc của cuộc sống thành đô đều tiêu tan. Ấy vậy mà giờ giữa biển khơi thì sợ đến sốt vó, nhìn bốn phía toàn là nước và nước, đường chân trời xa tít tắp, chẳng biết đâu là bến bờ. Ngày trước đi học, sách vở thường ví con tàu ra giữa đaị dương thì như chiếc lá tre, lá trúc, giờ thì thấy không đúng, thật sự tàu giữa đaị dương chỉ như sợi lông măng. Ông Hải laị thấy những người trên tàu không khác gì hoàn cảnh của những con chuột đồng khi mùa nước nổi, bập bềnh trên khúc gỗ, cành cây. Con tàu chết máy cứ trồi lên hụp xuống giữa những lượn sóng. Ông Hải ói sạch cả ruột gan, không gì để ói mà vẫn cứ ói, bụng đau quặn thắt, một tí dịch cũng không còn nhưng cơn buồn ói nó cứ ụa lên. Đói mờ cả mắt, nằm bẹp ở sát mạn tàu, ông Hải thấy thấp thoáng thần chết cận kề, bao nhiêu ký ức trỗi dậy, lòng ăn năn hối hận vô cùng. Một thời giàu sang nhất xứ, đã từng ky cóp để có một gia tài kết xù, đã đối xử bần tiện với người làm công… để rồi mất sạch cả trong một buổi sớm thay ngôi đổi chủ của sơn hà. Ông thầm nghĩ:” Giá mà hồi đó ta san sẻ bớt cho người làm công, kẻ nghèo khổ bần cùng, giúp đỡ tha nhân…thì khi mất hết gia sản cũng còn chút dư phước, đằng này mất cả mà phước báo cũng không , thật đúng là dã tràng xe cát. Ngày trước khi ra đi thì lòng đinh ninh sống chết gì cũng phải đi, giờ nhìn vợ con đói, khát nằm vật vã trên tàu thì lòng thống hối laị càng lớn. Ông Hải ân hận mình đi từ cái sai này đến cái sai khác. Trước khi tàu chết máy, gã tài công cố hướng mũi về Mã Lai nhưng giờ dòng nghịch lưu đẩy nó quay về hướng đông nam. Nước chảy, gió thổi con tàu càng ngày càng xa, hết nắng gay gắt ban ngày lại cái lạnh thấu xương đêm đen. Chẳng còn ai biết đã bao nhiêu ngày trôi qua, con tàu cứ thế trôi, may mà chưa gặp bão hay cướp biển. Thỉnh thoảng thấy xa xa có tàu hàng, mọi người vùng dậy gõ nồi,song, vẫy áo quần hay bất cứ thứ gì vớ được, dồn hơi la hét… nhưng tất cả loãng trong hư không, tàu hàng laị mất hút ở chân trời. Trời vừa hừng đông, chị Liễu ở cuối con tàu, giọng khan đặc la hớt hải: 

 - Con bé Tư chết tự hồi nào, xác cứng đơ đây nè! 

 Nhiều tiếng than tội nghiệp, con nhỏ mới mười mấy tuổi đầu, chưa đủ lớn đã chết khát oan ức trên con tàu này. Đằng kia laị lao xao, có người la lên:

 - Chú Hai chết rồi, xác lạnh ngắt, có lẽ chết tối qua!

 Nhiều tiếng niệm Phật, đọc kinh rì rầm. Có người làm dấu thánh giá, miệng cũng lầm bầm đọc kinh thánh. Mấy anh thanh niên trẻ, khiêng hai cái xác vô hồn thả vào lòng biển cả. Ngày hôm sau laị có ba người nữa bỏ mạng, biển laị nhận thêm cư dân mới. Trên tàu như một bãi tha ma, sự im lặng bao trùm không gian, chỉ còn tiếng óc ách của nước vỗ mạn tàu, con tàu hệt như một nấm mồ nổi giữa sóng nước trùng dương. Ngày kế laị có bốn người chết, rồi ngày tiếp theo có ba người chết, người trên tàu khiêng xác những kẻ xấu số lặng lẽ thả vào lòng biển, không ai còn nước mắt để khóc, những cái xác vô hồn từ từ chìm vào lòng biển xanh thẫm như màu mực. Những người còn laị cũng kiệt sức lắm rồi, chẳng còn biết mình có thể sống được bao lâu nữa, hy vọng được cứu cạn dần. Không biết ai đó thì thào:” Hay là chúng ta mượn tạm thịt xác chết để sống sót?” đa số phản đối, cho man rợ nhưng cũng có một số người im lặng

 Giấc xế chiều, khi ánh nắng bớt gay gắt,  đường chân trời tím thẫm. Gã tài công cùng hai đứa đàn em thân tín thất thểu len lỏi dọc mé tàu, laị chui xuống hầm tàu thì thấy một bà già ngồi khóc khô bên xác con Lành. Ngày con Lành lên tàu, gã tài công đã tăm tia:

 - Con nhỏ tướng tá ngon lành, bá cháy thiệt! 

  Mà quả thật, con Lành trắng da dài tóc, trông mướt rượt. Những gã đàn ông trên tàu đều nhìn chằm chặp, có kẻ buông lời cợt nhã, ấy vậy mà giờ là cái xác xám ngoét không hồn. Gã tài công và hai tên đàn em ráng khiêng xác con Lành đi, bà già níu laị. Gã bèn nói:

 - Dì ơi dì, cô Lành chết rồi, để tụi con đem cô ấy táng vào biển.

 Bà già khô héo quắt queo buông tay ra, thằng đàn em tên Tùng càm ràm:

 - Bà già vậy là lì đòn hơn, con nhỏ trông múp rụp mà laị yếu xìu, chết trước.

 Khiêng lên sàn tàu thì thả xuống nghỉ hơi, đói quá, run tay, kiệt sức…Nghỉ một chặp laị khiêng đến sát mạn tàu để thả xuống biển, khi cái xác được nâng lên vượt mạn, gã tài công đẩy nửa xác con lành ngoài tàu thì thằng Thụ, đàn em của gã tài công rị xác con Lành làm cho rơi laị sàn tàu. Gã tài công bực mình:

 - Đ…mẹ, mầy làm cái quái gì vậy? 

 Thằng Thụ lí nhí:

 - Dù gì thì con Lành cũng chết rồi, tụi mình cần phải sống! 

 Gã tài công thắc mắc

 - Ý mầy sao? Tao hổng hiểu.

 Thằng Thụ không trả lời, nó sụp lạy cái xác con lành ba lạy, vừa lạy vừa van vái:

 - Cô lành sống khôn chết thiêng, xin phù hộ cho tui, xin tha thứ cho tui, đừng bắt tui. Dù gì cô cũng chết rồi, tui đói quá, tui hổng muốn chết, cho tui mượn cô một tí để sống sót. 

 Vái xong nó rút con dao găm thủ sẵn trong túi quần ra và xẻo một miếng thịt đùi trên xác con Lành. Nó đưa lên miệng nhưng vừa cắn thì lập tức gan ruột nó quặn lên, nó ói từ mật xanh tới mật vàng, dù rằng chỉ còn chút xíu xiu nhờn nhợt trên sàn tàu. Gã tài công và thằng Tùng thấy thế há hốc miệng kinh ngạc và cũng lập tức ói theo, cũng như thằng Thụ, cả hai cũng chẳng có gì để ói, chỉ là chút nước tanh tanh. Bà già lần mò bò từ hầm tàu lên, trông thấy tất cả, bà hét lên nhưng không thành tiếng và ngã ra ngất xỉu. Ông Hải nằm gần đấy chứng kiến cảnh tượng từ đầu đến cuối, rùng mình sởn ốc nhưng sức yếu quá vả laị cũng chẳng biết làm gì hơn. Màn đêm từ từ phủ chụp xuống, bóng tối từ đáy biển trồi lên quấn lấy con tàu- nấm mồ nổi vào lòng đêm của nó, cái màu đen đặc quánh đến nghẹt thở, cả con tàu dường như không còn sự sống nào.

  Sáng sớm ngày kế tiếp, sau cái buổi chiều rùng rợn ấy, mọi người trên tàu mở mắt ra và không tin được ở mắt mình, ai cũng duị dụi mắt, có người ngơ ngác nhìn quanh như hỏi xem có phải là sự thật. Một con tàu to lớn như thành phố nổi, mọi người đang nằm trên boong của nó, người thì được truyền nước biển, kẻ thì được tiếp thức ăn…Những giọt nước mắt nóng hỏi chảy ra sau mấy tuần khô kiệt. Có tiếng thều thào:” Sống rồi, chúng ta được vớt rồi”

 Bốn tháng sau, các nhân viên của liên hiệp quốc đến trại lập hồ sơ cho những thuyền nhân. Có người xin đi Canada vì có thân nhân, có kẻ thì xin đến Đức…và những trường hợp này đều ra đi mau chóng. Những người còn laị thì chọn đi Mỹ nhưng phải đợi hơn một năm sau. Ông Hải chọn đi Mỹ, nhân viên liên hiệp quốc xem sơ qua hồ sơ, lời khai lập tức chấp thuận ngay. Ông ôm vợ sung sướng nhỏ lệ:

 - Qua cữa tử rồi em, chúng ta sẽ đến Mỹ làm laị cuộc đời

 Khi ra lên tàu ra đi thì đầy đủ, giờ sắp đến đất tự do, miền đất hứa mà bao nhiêu người mơ ước thì chỉ còn bảy người. Ba người trong gia đình ông vĩnh viễn làm cư dân của đại dương. Lần đầu tới phao số không là qua một cửa tử, lần được vớt lên thuyền viễn dương là qua thêm cửa tử nữa, giờ thì được chấp nhận cho định cư ở Mỹ là qua ba cửa tử. Nghĩ đến đó ông Hải sụp lạy giữa đường, tạ ơn Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. 

 Khi Thụ lên phỏng vấn, nhân viên của liên hiệp quốc thông qua một người phiên dịch nói:

 - Anh đã ăn thịt người, vi phạm đạo đức căn bản của con người. Anh sẽ bị trả về nguyên quán! 

 Cả Tùng và gã tài công cũng bị bác hồ sơ vì tiếp tay cho Thụ.  Tùng và gã tài công thấy oan ức toan cãi thì tay nhân viên liên hiệp quốc đuổi ra ngoài. Thụ chết trân, không biết nói lời gì, quả báo thật không sai vạy, mặc dù Thụ chẳng thật sự ăn. Nhiều người  thấy nhưng ai cũng cứ bảo là Thụ ăn thịt người, nỗi tuyệt vọng lẫn uất ức dâng lên làm cho Thụ như ngạt thở, bất thần anh ta rút con dao găm ra và đâm vào bụng mình. Thụ ngã vật xuống, máu lênh láng, con dao găm này lúc trước Thụ đã xẻo miếng thịt trên đùi con Lành vẫn còn ngập trong bụng. Cả trại nhốn nháo lên, tiếng la hét, tiếng gọi cảnh sát, cứu thương ầm ĩ. Thụ nằm mơ màng thấy bồng bềnh trên đaị dương, xác con Lành nhợt nhạt dập dềnh qua làn nước xanh thẫm. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất lăng thành, 4/2020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.