Hôm nay,  

Ngày ngưng bắn

24/04/202209:49:00(Xem: 3816)

Truyện ngắn

ARVN 1

 

Kho đạn thành Tuy Hạ nằm song song vòng vèo không xa lộ cao su vòng ngoài kia, đó là nơi tối tăm, nơi ẩn nấp của bọn cán binh Cộng sản, cả Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chúng trà trộn khó phân biệt. Hồi nào tới giờ chúng hay bắn lén vào quận Nhơn Trạch và vòng rào thành và từ trong, đạn pháo cũng nã vào rừng tả tơi, tội nghiệp mấy lô cao su nhiều chỗ trúng đạn bật gốc kêu trời. Nhưng trời thì ở rất xa, mà những nòng súng lớn thì gần kề.

 

Chiều ngày 26/1/1973 đã là giờ thứ 23 mà tụi quân khăn rằn áo đen, vẫn từ Long Thành, xóm hố, tràn qua ngả Phú Hội mở màn pháo kích đại bác khá nhiều vào quận đường và thị xã Nhơn Trạch. Ông quận, ông phó quận và vị yếu khu trưởng kho đạn đã đề phòng kỹ, nên họ sẵn sàng đáp trả mạnh tay, rồi bỏ ngỏ vòng rào chợ và quận cho chúng đâm đầu vào ăn cố giờ chót, cũng cỡ gần 15 tên CS chết cháy vì đạn và mìn định hướng gây phỏng nặng, nằm co quắp đen thui. Tội nghiệp chúng mất mạng vào giờ thứ 24 vì cứ tuân theo lệnh trên.

 

Đúng 7 giờ sáng hôm sau, là mở đầu ngày hòa bình 27/1/1973 chuông chùa Pháp Hoa và chuông nhà thờ Đại Phước đổ dồn vang vang những hồi chuông hòa bình hạnh phúc giòn giã âm vang, người dân Thị Cầu, Phú Thạnh, Đại Phước ở mấy xã bao quanh nô nức kéo ra đường, vào nhà thờ, vào chùa, họ cúi mình tạ ơn, vị ngọt hòa bình từ bao năm nay mơ ước, giờ đã điểm. Dưới chợ, dưới bến phà, người ta ríu rít gọi nhau mua hoa quả, trái cây tươi đi dâng lễ. Người ta thấy cả phu nhân vị yếu khu trưởng ra chợ, bà vui vẻ đi một vòng chào thân ái các cửa hàng, bà sắm lễ vật, cam, soài, mận đỏ thắm, vàng nhang, bà nói bà cần mua nhiều nhiều vì bà muốn ra vòng ngoài kho đạn, vòng sát bìa rừng cao su bạt ngàn đó, để cúng, cúng vong các chiến sĩ tử vong cả hai bên… cúng cho những oan hồn uổng tử. Bà bảo tất cả họ, họ đều hy sinh cho chúng ta an bình.

 

Ở vòng ngoài đó, có một con lộ rộng bao quanh yếu khu, coi như là một vùng phi quân sự. Lạ đời, gọi như là khu phi quân sự, mà có nhiều gia đình miền Bắc mộ phu thời 45-50 lập từng ấp nhỏ, rải rác sống bên nhau, họ làm việc cho đồn điền, họ thường trao đổi hàng hóa xuống xã Thị Cầu, một xóm công giáo ở Bắc Ninh vào lập nghiệp thời di cư 1955 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm) giữa hai lằn ranh rừng và yếu khu, hồi trước vẫn có quân đội Đại Hàn và quân đội đồng minh Mãng Xà Vương Thái Lan trú đóng. Trước ngày hòa bình được tái lập họ tự động ra đi.

 

Khi binh lính thuộc binh đoàn Mãng Xà Vương đi rồi thì binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa gồm nghĩa quân, địa phương quân và cả biệt động quân về giữ an ninh vòng đai đó. Tạm gọi là vòng đai yếu khu, trên con đường vòng đó, có xe lam di chuyển là phương tiện giao thông của dân chúng các quận lỵ bao quanh. Tuy vậy trên con lộ vòng vèo nguy hiểm này cũng vắng vẻ. Nhưng hôm 27/1/1973 thì đông người hơn, có các binh sĩ nghĩa quân VNCH rủ nhau ra rẫy cỏ, phát quang bớt các bụi rậm, xe lam cũng chạy nhiều hơn mọi khi. Họ cười nói với nhau, ồ ồ, hòa bình rồi, đâu cần những lùm cây  những bụi rậm nữa… Họ vui đùa thoải mái. Ô này, anh em ơi! Ơi, ơi, có chúng tôi đây! Tự nhiên như  không khí, có tiếng đáp lại từ bên kia vòng rào kẽm gai thứ hai còn rậm rì, làm mấy người lính địa phương quân bên này ngừng tay làm việc, họ tò mò ngó sang hàng xóm, ở đó có sẵn áo đen khăn rằn lố nhố khá đông tới rồi.

 

Rồi có một người lấy hai tay đưa lên miệng làm cái loa nói lớn:

 

– Chúng tôi chào các anh em, hòa bình rồi hòa bình rồi, đừng bắn nữa đừng bắn nữa!

 

– Ơ, thế tối hôm qua, anh, các anh, ai còn bắn pháo đùng đùng thế? Giờ thì bạn muốn gì?

 

– Thì là tối hôm qua chưa hòa bình, lệnh ở trên ra mà.

 

– Vậy giờ bạn muốn gì?

 

– Muốn gì, cấp chỉ huy bên này muốn nói chuyện với một cấp chỉ huy bên ấy. Được không anh?

 

– OK, được quá đi chứ, để đi… đi hỏi lệnh trên đã.

 

Họ cùng cười, hơi chế giễu!

 

Chiều còn sớm, 3 giờ xế, như đúng hẹn, ông thiếu tá Long ra vòng rào gặp người của bên kia, bên kia không xa, họ đứng lố nhố với nhau ở một gốc cây, duy chỉ có một người tiến lại gần chào và đưa tay, tỏ ý muốn bắt tay đại úy Long. Người cán binh CS đó mặc đồ bộ đội, anh tự giới thiệu:

 

– Tôi tên Bính, Nguyễn Văn Bính, người Ý Yên Nam Định, là quân sĩ bổ sung từ ngoài vào, cấp bậc trung úy kiêm chính trị viên, tiểu đoàn Sông Bé, tôi vừa tới đây, chào mừng anh em, chào anh.

 

Ông đại úy đưa tay bắt tay xã giao với người cán binh cộng sản và nói luôn một hơi rất mạch lạc:

 

– Tôi, Bạch Thái Long, cũng người Ý Yên Nam Định, tôi đặc trách an ninh quận, từ Phú Thạnh, Phú Hội, bao gồm vòng ngoài Đại Phước này. Các anh có khỏe không?

 

– Cám ơn quận trưởng, chúng tôi còn đủ lương thực.

 

Nghe cán binh nói thế, ông quận trưởng cười xòa, bên kia đưa thuốc lá hoa mai ra mời và nhận đồng hương:

 

– Ừ, thì tôi cũng người ở đó, nhưng tôi xa miền Ý Yên, lâu, lâu lắm rồi. Tôi chỉ nhớ lơ mơ hình như ở Nam Định có cái cầu Hàm Rồng.

 

– Cầu vẫn còn đó.

 

Rồi Bính được thể hỏi luôn:

 

– Trong trận tối hôm qua, các anh thiệt hại ra sao? Tôi xin chia buồn… tôi nghĩ đó là trận chiến cuối cùng.

 

– Tôi cũng mong là vậy! Trận tối qua thì – ông quận ngừng nói, bật lửa và thở khói thuốc, trầm tư – bên tôi bị thương đã chuyển về bệnh viện Biên Hòa. Bên anh vì xông vào trực diện, làm hơn 16 người tử thương, còn nằm trong sân quận. Chúng tôi đã cho quàn sẵn trong các poncho, còn đó.

 

Bính tỏ ý muốn thu hồi xác đồng đội và đã được chấp nhận mau mắn. Đại úy Long thỏa mãn đối phương dễ dàng, ông muốn thu dọn chiến trường thật lẹ, tuy nhiên ông cảm thấy đắng nghẹt trong cổ họng, ưu tư ngập hồn, khi nhìn những xác Việt Cộng chết còn trẻ măng, quanh mình người nào cũng đeo một vòng tròn vải đựng gạo, gạo là gạo, gạo vung vãi khi họ tử thương, gạo trắng trộn lẫn máu đỏ. Tuổi trẻ sinh Bắc tử Nam để vinh danh cho ông Hồ Chí Minh?

 

Những ngày sau đó, Long và Bính còn gặp nhau thêm một vài lần qua vòng rào kẽm gai. Bính luôn gọi đại úy Long là anh xưng em, có lúc họ nói chuyện với nhau về quê hương Ý Yên xa tắp. Họ hút thuốc lá quân tiếp vụ và uống café gà men nhà binh do anh Long mời và Bính khen ngon đáo để.

 

Rồi một ngày sau, bất chợt từ sát bên kia hàng rào kẽm gai, mọc lên một cái cổng chào kiên cố, trên cổng chào, ngạo nghễ một lá cờ Mặt Trận bay lất phất như chọc tức Long! Cờ nửa xanh nửa đỏ với sao vàng ở giữa. Vị đại úy không ngần ngại hỏi Bính:

 

– Ai cho cậu làm cái trò khỉ này? Tôi không muốn nhìn thấy lá cờ Việt Cộng này ở đây!

 

– Anh cảm thông, đó là lệnh trên, vì có Ủy ban Kiểm soát Đình chiến sẽ đi qua đây nay mai.

 

– Ủy ban nào tới đây vẫn phải có phép của tôi, tôi cho phép cậu mang lùi lá cờ mặt trận kia lui vào sâu 100 mét, vì tôi không mốn nhìn thấy nó.

 

– Để em về báo cáo lệnh trên, sẽ xử lý sau.

 

– Tôi cho cậu 12 giờ để giải quyết nó.

 

Rồi 12 giờ qua đi, thêm 12 giờ nữa, lá cờ nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vẫn phần phật bay bay phất phới trong gió.

 

Bính thì biến đi đâu mất dạng đã 2 ngày qua. Ông quận ra thị sát lần nữa, rồi quay lưng về hội ý cùng yếu khu. Chiều cùng ngày, đại úy Long cùng hai người lính, đích thân lái xe, mang súng đại liên ra sát hàng rào ứng chiến.

 

Đoàng! Đoàng! Đoàng!

 

Họ bắn tan tành cái cổng chào, và bắn bay lá cờ quái ác, bắn cho nó chạy bay tan nát vô rừng sâu. Trúng đạn, hòa bình đã bị thương! Tối đó, nghe đạn AK nổ rào rào phía bên kia chiến tuyến. Hòa bình đã bị thương!

 

Chúc Thanh

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.