Hôm nay,  

Tiểu Hổ Gian Truân

13/01/202300:00:00(Xem: 2789)

 
Vừa cố buộc sợi dây vào cổ con mèo bà cụ vừa mềm giọng dỗ dành. Như ngày xưa dỗ dành thằng con trai khi nó mới lên ba lên bốn, “Ngoan đi. Về ở với nhà giàu, người ta thương chúng mày.”

Vẫn đùa nghịch như mọi khi, hai con mèo dụi đầu vào nhau. Chúng nó thích vật nhau, ngã lăn vòng vòng rồi một đứa chạy, đứa kia đuổi bắt.

“Làm gì thế nào. Đứng yên một tí được không. Chúng mày không biết buồn à.”

Bà mắng cả hai đứa.

“Đến như vậy mà vẫn con nhởn nhơ được.”

Bà nhẹ nhàng túm cổ một đứa. Vòng sợi dây quanh cổ nó. Nới một vòng tròn đủ để đầu nó không tuột ra ra nhưng cũng không siết quá chặt, để nó còn thở được. Rồi bà buộc thắt nút lại. Con mèo con bị buộc dây quanh cổ, lúc đầu loay hoay tìm cách gỡ, nhưng chỉ một lúc sau đã quên, lại tiếp tục vờn bắt con kia. Bà nhoài người túm con thứ nhì. Tuốt sợi dây luộc, luồn quanh cổ nó. Đo đại khái cái vòng dây không quá lỏng để khỏi tuột qua đầu và không quá chật để không làm con mèo nghẹt thở. Xong, bà buộc hai đầu dây lại với nhau.

“Đứng yên xem nào. Hai đứa bay làm gì mà đùa giỡn không biết mệt. Đói rã họng ra mà vẫn cứ nhởn nhơ.” Bà mắng mỏ hai đứa nó. Hệt như ngày trước mắng mỏ hai đứa con. Khi hai anh em chúng nó còn bé tí, chả biết thế nào là lo âu; khi người mẹ đơn thân một mình chống chọi với cuộc đời, để cố nuôi cho hai đứa con dại lên người.

“Ở yên đó đi. Để bà xem còn cái gì ăn không đã.”

Bà bỏ hai con mèo đó, lủi thủi đi vào góc căn chòi. Tết nhất đến nơi rồi mà trời vẫn cứ nắng hanh. Gió đi đâu mất biệt. Cái lạnh gai gai những ngày cuối năm giờ chỉ còn trong trí nhớ. Ai ăn đậu hũ không. Tiếng rao hàng ngoài đầu ngõ. Tiếng reo lên bổng xuống trầm. Nhà chị này rao hàng mà cứ như đang hát karaoke. Bà cụ thầm nghĩ, rồi nuốt nước miếng. Cái lưng cong vòng. Bà cố với tay lấy chiếc hộp thiếc méo mó nằm trơ vơ trên cái dàn bếp, mà những vỉ lò bếp ga đã bị tháo đi mất từ đời thuở nào.    

Hai tay đỡ cái hộp nhẹ tênh, bà lủi thủi bước ra khoảng giữa căn chòi, nơi vạt nắng xiên nghiêng, cẩn thận đặt xuống nền nhà. Một vẩy gió lùa qua khung cửa. Cái chòi không có cửa. Như vậy cũng hay, cụ vẫn nghĩ, không có cửa nên những luồng gió hiếm hoi ra vào thoải mái. Chỉ khổ là ngày mưa, bà với mấy con mèo phải co ro, ép người sát vào cái vách tường quét vôi loang lổ để khỏi bị ướt.

Cái hộp đặt xuống đất. Mảnh giấy quảng cáo chương trình ca nhạc nhặt ngoài ngõ trải ra bên cạnh. Cô hoa hậu môi cười trào ra ngoài khung hình. Bà loay hoay với cái nắp hộp thiếc. Những đốt xương ngón tay vặn vẹo. Nắp hộp mở ra. Những hạt cơm lổn nhổn. Bà cụ bốc một nhúm cơm, bỏ lên tấm giấy quảng cáo.

Hai con mèo nhỏ ngơ ngác nhìn những hạt cơm trắng. Chúng đứng ngẩn ra đó một lúc lâu. Bà cụ đẩy cả hai đứa sát lại nhúm cơm. Hai đứa vẫn ngập ngừng. Bà đẩy mặt thằng anh sát xuống nhúm cơm. Thằng anh nhấm nháp, bà lại đẩy đầu thằng em vào nhúm cơm. Thằng em có vẻ nhanh nhẹn hơn thằng anh. Ngay cả khi đùa giỡn, thằng anh cũng chậm chạp hơn thằng em.

Khi hai con mèo đã bắt đầu nhỏ nhẻ nhấm nháp những hạt cơm trắng, bà cụ mới thong thả bốc cơm trong cái hộp thiếc bỏ vào miệng. Những hạt cơm khô khốc. Hèn gì hai con mèo liếm láp như bị bắt buộc. Nhưng mà cơm thừa của quán ăn thì như vậy là quý lắm rồi. Bà thầm nghĩ. Những ngón tay xương xẩu run run nhét những hạt cơm vào cái miệng móm mém. Bà nhai thật kỹ. Cái răng lung lay lâu rồi. Cứ chạm vào là đau nhói. Vì vậy bà luôn dòm ngó những tô canh thừa của khách trong cái quán ăn đầu ngõ. Cuối ngày, thỉnh thoảng xin được chút nước súp thừa của tiệm phở, thế là cả nhà - bà với mấy anh em nhà mèo - mới có được bữa ăn thịnh soạn.

Thằng mèo anh ăn vài miếng rồi ngưng. Thằng mèo em ngước nhìn, rồi lại cúi xuống những hạt cơm.

“Mày lười ăn lắm nghe chưa, thằng cả này.” Bà cụ lẩm nhẩm mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ, đây là thằng con cả. Thằng con cả có hai cái to vểnh lên như hai cái loa. Và cũng vẫn trong mắt, trong tim cụ, thằng mèo em, tính theo ngôi thứ thì là thứ ba, nhỏ hơn anh một tí thôi, nhưng nhanh nhẹn và nghịch ngợm có hạng.

“Tiểu hổ mà ăn uống cứ như mèo ấy thôi!” Cụ mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ; nhà này có bốn đứa con. Ba thằng con trai và một đứa con gái. Bốn anh em nhà mèo.

“Phải ăn mạnh lên mới có sức, có sức thì mới sống sót được ở cái đất này, con ạ.” Cụ nói, một tay bốc cơm bỏ lên miệng, một tay xoa đầu thằng con cả.
Thằng mèo anh cả ngưng ăn, đứng tần ngần nhìn thằng em. Rồi quay lên nhìn bà cụ. Bà cụ nhìn nó. Nhìn hai con mắt nó. Nhìn cái màu lông loang loang nửa đen, nửa xám trắng của nó. Cái màu lông giống hệt mẹ nó.

Có tiếng xe gắn máy rầm rộ phía trước. Chiếc Dream thắng gấp ngay trước cửa. Bà cụ ngưng bốc cơm, kéo sợi dây buộc cổ hai con mèo lại sát bên mình.
“Mẹ đang làm gì thế?” Giọng đàn ông rổn rảng.

Bà cụ ngước con mắt kéo mây lên nhìn. Bóng người lù lù trước mặt. Cụ nuốt vội miếng cơm, hỏi bằng giọng khàn đục, “Mày đi đâu đấy? Hôm nay không đi làm à?”

“Hôm nay nghỉ.” Gã thanh niên áo thun quần jean bạc phếch dựng xe. Chân khua đế giầy lộp cộp, tay lắc chùm chìa khóa leng keng. “Bà nội ăn uống gì sớm thế?”

“Cho hai đứa này ăn.” Bà cụ trả lời, một tay vẫn níu chặt sợi dây buộc cổ hai con mèo.

Hai đứa này… Mẹ làm như thể chúng nó là trẻ con không bằng.” Gã thanh niên cười khẩy.

Gã ngồi thụp xuống bên cạnh bà cụ. Bà cụ nhích vội ra sau, tay nắm chặt sợi dây. Hai con mèo bị kéo sát vào nhau, ngọ ngoạy cái đầu, tìm cách gỡ.

“Hai tiểu hổ này được đấy. Vài tháng nữa mẹ đãi con bữa tiệc tiểu hổ nhớ.”

Người thanh niên toét miệng cười. Bà cụ kéo sợi dây sát vào người. Hai con mèo nhỏ bị lôi sát vào nhau, bốn chân cào xuống đất, ngọ ngoạy cái đầu, căng kéo sợi dây.

“Mày!” bà cụ mím môi, lườm thằng con trai. “Cái đồ ác nhân ác đức!”

Giọng bà cụ khàn, pha chút uất ức, nên ẩm như thấm đầy hơi nước. Hai mắt khô gay gay đỏ chớp vội. Thằng con trai vẫn cười. Gã đưa tay xoa đầu thằng mèo anh, rồi xoa tới thằng mèo em, “Hai tiểu hổ này làm món nhậu ngon phải biết.”

“Đồ ác nhân ác đức! Mày ăn thịt mẹ nó chưa đủ sao?”

“Vật dưỡng nhân mà mẹ. Nuôi thú không để làm thịt ăn thì để làm gì.”

“Cha mày!” Bà cụ trừng mắt, lập lại câu trách móc, “Mày ăn thịt mẹ chúng nó chưa đủ hay sao!”

Gã thanh niên đứng dậy, tay vẫn vung vẩy chùm chìa khóa. “Mẹ nó là mèo già, ăn thịt đâu có ngon bằng mèo non. Non như hai con mèo này.”

Gã chỉ ngón tay xuống chỗ hai anh em nhà mèo đang ngồi. Bà cụ gạt cái hộp thiếc đựng cơm qua một bên, kéo hẳn hai con mèo vào lòng. Thằng mèo em kêu ngao một tiếng như hỏi han, thắc mắc.

“Mày cần cái gì, nói thẳng ra đi.”

“Tết này con đi Sing chơi. Mẹ lại coi nhà hộ.”

Bà cụ chần chừ suy nghĩ.

Gã thanh niên nói tiếp, “Nhưng không được đem hai con mèo này theo. Bẩn cả nhà.”

Đang phân vân, nghe thấy cái lệnh cấm mèo, bà cụ buột miệng, “Không cho đem theo, tao để chúng nó ở đâu?”

“Ở đây.” Gã thanh niên quơ tay một vòng quanh cái chòi bỏ hoang. Cái chòi èo uột bám vào vách tường nhà của một đại gia trong ngõ.

“Bỏ chúng nó ở đây cho người ta bắt đi làm thịt à?”

“Còn bé quá, chẳng ai làm thịt bây giờ đâu. Vài tháng nữa…” Gã nói, và bật cười sằng sặc một mình.

Giọng cười kéo bà cụ lại một buổi chiều, khi bà lại coi giùm thằng cháu nội, thằng cháu thủ thỉ kể với bà là bố bắt mèo của bà làm thịt, bà hỏi đứa bố, thì đứa bố cũng cười sằng sặc như thế.

Cười một hồi, gã ôm bụng, nghiêm trang nét mặt, “Lại coi nhà giùm tụi con, tụi con trả tiền sòng phẳng.”

Gã đàn ông rồ máy xe, quay một vòng bánh, thả khói mù mịt rồi mất hút đầu con hẻm.

Bà cụ nới tay níu sợi dây. Hai anh em thằng mèo lúc lắc cái đầu rồi chống chân ngồi nhìn quanh. Bà cụ xoa đầu hai đứa, đậy nắp hộp thiếc đựng cơm lại, lom khom đi lại góc căn chòi, đặt lên kệ.

“Đi thôi, hai đứa bay.”


Cụ nhặt từng đứa, thận trọng bỏ vào trong cái túi vải. Chúng nó ngao ngao thắc mắc và ngọ ngoạy lục sục trong túi.

“Có yên đi không nào! Việc gì mà làm um lên như thế chứ.”

Hai anh em nhà mèo đã một lần bị bỏ vào cái túi này, đem ra chợ. Lần ấy, cụ đi quanh quẩn mấy vòng chợ mà không tìm được chỗ để bày món hàng đặc biệt này. Lúc ấy cái túi chật cứng vì có tới bốn anh em nhà chúng nó. Ba thằng mèo anh, một con mèo em út. Vác chúng nó đi vòng quanh chợ khiến cái lưng cụ muốn gẫy thành trăm mảnh vụn. Bốn đứa nó còn lao nhao, chọc ghẹo, cấu xé nhau trong túi vải. Cụ vừa cố vác cái lưng còng, vừa đeo chúng trên vai, vừa lẩm nhẩm la rầy anh em nhà chúng nó.

“Làm gì mà ầm ĩ lên như thế, chúng bay. Anh em không còn gặp nhau lâu nữa đâu, phải biết quý lúc còn có nhau chứ.”

Cụ la rầy chúng. Như một lần; như biết bao nhiêu lần la mắng hai đứa con. Bây giờ chẳng còn phải la đứa nào. Con trai lớn ăn nên làm ra, có vợ có con, có nhà có cửa. Con gái cũng lấy chồng tận bên Hàn Quốc. Chả còn đứa nào cận kề để cụ mắng mỏ. May mà có lũ mèo. Thiên hạ thấy bà cụ lưng còng sát đất, đeo túi vải trên vai, vừa đi vừa nói một mình, giống như người mất trí, sợ vạ lây, lảng tránh ra xa. Cụ vừa vác cái túi trên vai, vừa chập choạng những bước chân rã rời.

Vác cái lưng gẫy gập, đeo hai con mắt nhấp nháy dưới ánh nắng chói lòa, bà cụ như cánh bèo trôi trong dòng sông người quẫy động. Bên mấy sạp bán cá có chỗ trống, cụ định ngồi xuống nhưng lại sợ anh em nhà mèo chúng nó ngửi mùi cá, thèm thuồng tội nghiệp, cụ lại tiếp tục lê bước. Đến gian hàng bán các đồ gia vị, cụ lại định ngồi xuống, nhưng mùi tiêu, mùi tỏi cay nồng trong không khí khiến mũi cụ ngứa ngáy, và nhất là cụ nghe được tiếng hắt hơi - thật nhỏ nhưng cụ vẫn nghe rõ - của con mèo út. Con bé đúng là con nhà tiểu thơ. Cụ nghĩ thầm và tiếp tục lê bước trong nhà lồng chợ.

Đến chỗ trống vừa đủ một người ngồi trong khu bán bánh mứt cho thiên hạ ăn tết, cụ ngập ngừng đứng lại thở. Lâu lắm cụ không được nếm mùi bánh kẹo ngày tết. Căn chòi ghếch lên vách tường ông nhà giàu là chỗ trú ngụ của cụ mấy năm nay rồi. Và thực đơn của cụ là những cơm thừa, canh cặn của quán ăn đầu con ngõ. Thừa với cặn nhưng đừng thiu đừng thối là quý rồi.

“Bà già làm gì vậy?” Người chủ quán hỏi lúc cụ mở túi, kéo bốn anh em nhà mèo ra.

“Bác cho tôi nhờ chỗ một tí.” Cụ nói.

“Bà làm gì vậy?”

“Tôi bán mấy con mèo.”

Người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm nhìn chăm chăm bốn con mèo mướp giống hệt nhau, đang loi nhoi trên cái túi vải, trải lên nền xi măng.

“Bà bán giá cả thế nào đây?” Một người đàn bà mặc áo dài, túi xách đeo vai, dừng lại, nhìn lũ mèo.

Câu hỏi bất ngờ. Bà cụ hoàn toàn không chuẩn bị cho câu hỏi này. Cả đời có bao giờ mua bán mèo đâu. Mẹ của bốn đứa này là mèo hoang. Chị mèo đói ghé căn chòi của cụ một buổi trưa trời mưa tầm tã, nước ngập đường phố, xe cộ, người ngợm lội nước lõm bõm. Con hẻm nhờ ở khu đất cao nên không bị lụt. Chị mèo sợ nước, đứng sát vào vách tường tránh mưa. Cụ cho nó ăn, nó ở lại với cụ. Nó hẹn hò chim chuột lén lút đâu đó cụ chả biết. Nó có bầu. Nó rên rỉ chuyển bụng. Rồi nó sinh cho cụ ba thằng mèo con và một út mèo. Năm mẹ con nó sống quanh quẩn bên cụ. Ngày ngày cụ lân la quán ăn, xin lau bàn, chùi ghế cho người ta, đổi lấy tí cơm, tí canh cho cụ và cho năm mẹ con nhà mèo. Mèo mẹ đang nuôi bốn đứa con mơn mởn thì thằng con trời đánh của cụ rình bắt nó đem đi làm thịt.

Thành ra cụ ngập ngừng.

“Bao nhiêu một con?” Người khách vén hai tà áo, ngồi xuống, xoa đầu mấy con mèo.

Trong kia, người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm lớn giọng, “Bà già không có giấy phép, đem đi chỗ khác bán đi.”

Như không nghe người chủ quầy hàng bánh mứt nói gì, người phụ nữ mặc áo dài màu thiên thanh hỏi, “Sao bác không để chúng nó ở với mẹ chúng nó ít lâu nữa?”

“Chúng nó mồ côi cô ạ.”

“Ô, vậy… Con này bao nhiêu?” Người khách chỉ vào con mèo út, hỏi. “Cái miệng nhọ của nó xinh ghê. Miệng này ăn vụng phải biết!” Người khách nhấc con mèo út lên, cười.

Thấy không ai để ý đến mình, người chủ quầy hàng bánh mứt la toáng lên, “Kêu bảo vệ lại. Kêu bảo vệ lại.” Hai con mắt trợn ngược, cặp lông mi sắc như hai thanh kiếm vung lên, bà ta bấm điện thoại di động, nói oang oang vào máy.

Trong chớp mắt, hai ba gã đàn ông ào đến. Bà cụ hoảng hốt, nói vội với người phụ nữ áo thiên thanh, “Cô cứ lấy một con về nuôi đi. Chỉ cần đừng làm thịt nó tội nghiệp!”

Bọn đàn ông áo xanh màu cứt ngựa, quần ka-ki vàng nhạt ùa tới như cơn lốc. Người khách áo dài màu xanh da trời ôm lấy con mèo cái có cái chấm ở mũi, vội đứng dậy, bước đi. Bà cụ hoảng hốt bốc vội đám mèo bỏ vào túi, nhưng chỉ kịp bỏ được hai anh em thằng này vào cái túi vải thì bọn lâu la kia đã đến sát bên. Những đôi chân hung hãn đá văng “quầy hàng” của bà cụ. Bàn chân đá trúng một con mèo. Một tiếng kêu thất thanh. Tiếng mèo. Tiếng bà cụ. Âm thanh lẫn vào nhau. Nhưng tiếng kêu của bà cụ kéo dài tưởng như không bao giờ ngừng, còn tiếng kêu của con mèo thì tắt ngấm. Và con vật rơi xuống đất như một nắm bột mềm. 

Chuyện đã qua. Mọi người trong khu chợ đã quên. Người chủ quầy hàng bánh mứt – có cặp lông mày song kiếm - hẳn cũng đã quên, chỉ mình bà cụ còn nhớ.

Và hai anh em thằng mèo chắc cũng còn nhớ.

Vì vậy, bà cụ không dám bén mảng đến chợ nhà lồng nữa. Cụ cũng không dám bày hàng trước cửa tiệm của thiên hạ. Cụ tìm đâu ra giấy phép để ngồi bán bây giờ. Mà cụ đâu có thực tâm muốn bán hai anh em chúng nó. Khổ nỗi ở với cụ, sớm muộn gì chúng nó cũng theo nhau lên bàn nhậu của lũ phàm phu. Thật là gian truân anh em nhà tiểu hổ.

Hôm nay, bà cụ lại lập lại chuyện ấy. Thắt cái vòng dây lỏng quanh cổ hai đứa. Buộc thắt nút cho khỏi tuột. Đem chúng nó ra phố. Cụ chọn khúc đường ít xe cộ không có những đứa trời đánh rú ga ầm ĩ khoe xe xịn, để anh em nhà mèo không bị giật mình. Cụ chọn chỗ không có bóng những tên lâu la áo màu cứt ngựa quần ka-ki vàng nhạt, mặt mũi sần sượng như những tên cướp cạn. Và lựa chỗ không có bóng dáng một con chó hoang nào để anh em nhà mèo không bất ngờ bị cấu xé oan uổng.

“Ngồi yên một tí đi mà,” cụ thì thầm nhắn nhủ, hai tay đặt trên lưng hai đứa.

Hai anh em nó ngồi bên nhau, ngơ ngác nhìn phía trước. Lề đường lồi lõm, nứt nẻ khắp chung quanh. Chỗ này an toàn. Tụi lâu la cũng ít quần thảo. Đám khách bộ hành đi qua, ném lại quầy hàng của cụ cái nhìn lạ lẫm. Nắng đã tắt, phố đã lên đèn, mà chẳng ai hỏi han gì tới hai con mèo của cụ.

“Ngồi yên tí đi mà,” cụ thì thầm, tay khẽ ấn cái lưng của thằng mèo em xuống khi nó gồng mình đứng dậy. “Gần tết rồi. Về được với nhà tử tế thì tao cũng yên tâm.” Cụ xoa lưng thằng mèo em, dỗ dành. “Đi được trước tết thì tốt hơn chứ Tết Ta hàng quán đóng cửa ăn tết tới ra Giêng mới mở cửa, mình kiếm đâu ra cơm cặn canh thừa. Tao thì nhịn được chứ để chúng mày đói tao không nỡ.”

Một người đàn ông dừng lại, nhìn hai con mèo. Tim bà cụ lạc mất một nhịp. Mừng. Tết rồi, về với người tử tế cũng đỡ khổ một đời. Cụ thầm nghĩ.  

“Bán mèo hả bà già?”

Bà cụ ngập ngừng, rồi khẽ gật đầu. Cụ cố chào hàng, “Tiểu hổ. Nuôi cho nó bắt chuột.” Cụ cố nhấn mạnh hai chữ bắt chuột để người đàn ông thấy hai anh em chúng nó cũng được việc. Cụ không muốn người ta đem hai anh em nó ra làm thịt. “Giống này hay chuột lắm!” Cụ nói.

Người đàn ông nhếch mép cười. Gã ngước nhìn ngôi chung cư cao tới tận mây trời - với đèn xanh đèn đỏ chớp nháy giữa ban ngày - ở trước mặt. Rồi lại nhìn xuống hai anh em nhà tiểu hổ.

“Bé tí thế này thì nhai chả bõ dính răng!” Gã nói, rồi nhún vai bước đi.

Bà cụ sững người ra một giây, rồi cúi xuống hai anh em nhà mèo, thì thầm đủ cho hai đứa nó nghe, “Thôi về bay ơi, tối rồi!”

Chủ nhật 06 tháng 01, 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.