Hôm nay,  

Ba Của Các Con Tôi

08/06/202416:25:00(Xem: 2949)
freestocks-r_oV6smBBYk-unsplash
Hình minh họa từ Unplash

 

Hôm bữa, trong nhóm văn thơ của chị em phụ nữ mí nhau, có một chị được mọi người khen ngợi vì mối tình đầu là tình cuối của chị với anh xã. Câu chuyện tình thật đẹp, anh chị yêu nhau thời thanh xuân tươi trẻ thì Miền Nam rơi vào cảnh nước mất nhà tan, anh đi “cải tạo” vì tội gia nhập nhóm “tàn quân phản động” mưu toan lật đổ chính quyền “xã hội chủ nghĩa” . Chị đi thăm người yêu, được anh tặng những chiếc vòng chiếc lược bằng nhôm mà hầu như chàng “cải tạo” nào cũng biết làm. Kỷ vật đó chị vẫn giữ đến ngày nay, anh chị vẫn sống trong hạnh phúc dạt dào, anh vẫn chải tóc cho chị như câu ước năm xưa anh khắc vào trong một chiếc lược.


Không màu mè hoa lá cành, không phô diễn, anh chị thực sự là một đôi đúng nghĩa “trăm năm hạnh phúc đến răng long đầu bạc”. Tôi có hỏi chị:

-          Chị ơi, chị hãy kể một tất xấu của anh, để em bớt... ghanh tị, được không chị?

Chị bảo, ối giời, kể ra thì nhiều lắm cưng ơi!

Đúng vậy, đời này chẳng có con người nào hoàn hảo, mà cũng chẳng có cuộc hôn nhân nào hoàn hảo, ai cũng có những điểm tốt điểm xấu, miễn sao điểm tốt nhiều hơn điểm xấu, thì coi như... hôn nhân thành công. Câu này đã có ai nói chưa nà, nếu chưa, thì coi như tôi là người... phát minh ra, nghen!

Vậy là tôi an tâm, kể chuyện tốt của anh xã mình cho bà con nghe chơi, theo đúng như lời dạy của ông bà mình “tốt khoe xấu che”. Dại gì vạch áo cho người xem lưng.

Hồi mới quen nhau, tôi nũng nịu cảnh báo trước với chàng:

-          Thú thiệt với anh, em chả biết bếp núc nấu nướng gì đâu, chỉ có tình yêu của em dành cho anh thôi. Vậy anh có chịu cưới em không?

Chàng chân thành:

-          Đối với anh, chuyện ăn uống không phải là vấn đề quan trọng trong cuộc sống . Sau 1975 cả dân Miền Nam phải ăn khoai sắn, đến khi qua trại tỵ nạn Mã Lai, cơm Cao Ủy cho gì ăn nấy, nên anh cũng quen rồi .


Nói xong, chàng cười:

-          Anh dễ nuôi lắm, thịt thà cá mắm, miễn là nấu chín, anh đều ăn được hết á!


Khi chuẩn bị cưới, bà chị Cả bên Mỹ chép cho tôi hướng dẫn các món ăn thông thường cho bữa cơm . Lúc ấy chưa có email, iphone, điện thoại cầm tay, chỉ có phone nhà, nên ngoài việc gửi tờ giấy các món ăn qua bưu điện, chị cũng phone chỉ cách nấu, dù khả năng bếp núc của chị cũng... như tôi, chỉ khác là chị đã lập gia đình từ lâu, có “kinh nghiệm” nấu nướng nhiều hơn tôi:


-          Nè, thứ hai thì rau luộc, thịt kho, thứ ba lại luộc rau kho cá, thứ tư đổi món canh bí và trứng chiên cà chua, thứ năm canh khoai tây cà rốt hầm sườn heo và món mặn là tàu hũ chiên xả, thứ sáu đùi gà cánh gà chiên ăn với rau sống dưa leo, thứ bảy tôm rim mặn và canh rau.

-          Còn chúa nhật thì sao?

 

Bà chị... bối rối:

-          Chúa nhật... kiếm cớ đi ăn ngoài nhà hàng, hoặc về nhà má chồng ăn ké, vậy là khỏe re.


Thời gian đầu, menu của bà chị là cứu cánh đắc lực của tôi, nhưng ăn hoài cũng ngán, tôi lại học hỏi bạn bè xung quanh mỗi khi đến nhà họ chơi, ghi công thức xuống cuốn sổ tay nấu ăn, nên được biết thêm vài món khác, rồi lại ngán, chưa thể moi móc đâu ra những “bài bản” mới vì “gia tài” của bà chị và tôi cũng ngang ngửa nhau rồi. (Lỗi này... tại má, ngày xưa má tôi thương yêu chiều chuộng con, bếp núc má đảm đang làm hết, tự tay lo cho chồng con những bữa ăn ngon).

Tôi chợt nhớ hồi ở trại tỵ nạn Thailand, nhóm chúng tôi thỉnh thoảng luộc trứng, rồi luộc bắp cải, dằm quả cà chua vào nồi canh rau, trứng dằm nước mắm ớt, đơn giản mà ngon thần sầu, nhất là khi bụng đói, hết sạch cả nồi cơm. Tôi liền áp dụng ngay, nhưng có thêm miếng thịt ba rọi luộc, tưởng là món ăn cứu đói dã chiến, nhưng không ngờ, khi ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo, bên trong nhà ăn chén cơm nóng, trứng bổ đôi và thịt luộc xắt mỏng, ngâm trong chén nước mắm cay cay đậm đà, rồi tô canh rau thơm mùi tiêu, hành ngò đang bốc khói nghi ngút, anh xã vừa ăn vừa khen tấm tắc, bảo món này... lạ mà ngon! Được lời như cởi tấm lòng, tôi cho món này vào menu thường xuyên, nhanh gọn, ngon bổ rẻ, có đủ hết. Nhằm bữa nọ, bà má chồng ghé qua chơi, khi vợ chồng tôi đang ăn tối, thấy chồng tôi thưởng thức món “lạ mà ngon” của vợ, bà trố mắt nhạc nhiên, rồi cười cười, hỏi tôi:


-          Ủa, con có bí kíp gì vậy, chớ hồi đó, có lần đi làm về trễ, trời có bão tuyết, làm biếng ghé chợ, nên về nhà má làm món này là nó biểu món gì mà kỳ cục quá, rồi vừa ăn vừa xem tivi chẳng hào hứng chút nào .

Tôi ra vẻ bí mật:

-          Ai biểu má cưng chiều ảnh quá nên ảnh hư.

Bà má chồng cũng nhẹ nhàng, hình như có chút mỉa mai, hờn mát:

-     Cưng chiều gì đâu, tại cả ngày mọi người đi học, đi làm, thì bữa cơm chiều cũng cần phải tươm tất đủ chất chớ.

Tôi ngó lơ, không lẽ khai thật với má chồng rằng tài nghệ nấu ăn của con chỉ cỡ đó, anh không ăn thì nhịn đói sao. Không cần phải nói qua lại chi cho mệt. Hờn mát là chuyện của các bà má chồng, quan tâm hay không là chuyện của các nàng dâu.

Trở lại chuyện bếp núc của tôi, theo thời gian thì cũng có tiến bộ. Khi sinh con, chúng chập chững đi học, tôi cũng chịu khó tìm tòi, làm các món đơn giản cho chúng ăn sáng, nào pancakes, nào muffins, nào biscuits, mặc dù lắm lúc cũng bị chúng chê không ngon như ngoài tiệm.

Rồi sự xuất hiện của Youtube quá tuyệt vời, giúp đỡ cho rất nhiều cô nhiều bà nội trợ tay ngang được mày mò làm nhiều món đòi hỏi sự khéo léo, phức tạp, công phu, trong đó có tôi và bà chị bên Mỹ kia. Hai chị em cùng... mừng húm.

Nhưng dẫu sao, có bột mới gột được hồ, có tích mới dịch được tuồng, nên một người vụng về, không có khiếu bếp núc như tôi, thì Youtube chẳng phải là cây đũa thần hóa phép, cho tôi có đôi hia vạn dặm, bỗng chốc trở thành đầu bếp giỏi giang được. Ngoài vài món may mắn, như phở, hủ tíu, bún riêu, nấu mãi cũng thành quen tay, khá lên chút đỉnh, còn cơ bản, các món khác, kể cả các món ăn cơm thường ngày, tôi vẫn chỉ dừng lại ở mức tàm tạm chấp nhận được, hên xui, ngon dở tùy hứng và tùy tâm trạng mỗi ngày.

Bởi thế, có lúc có một món nào đó, chính tôi khi ăn cũng công nhận là... không hề ngon. Chờ cả nhà ăn xong, thức ăn còn dư bỏ thì thương vương thì tội, buổi tối rình khi anh xã đã lên lầu vào phòng đi ngủ, tôi âm thầm ở dưới bếp pack lunch bag cho chàng mang đi làm, và dĩ nhiên cũng pack cho tôi nữa. Ăn tại giờ break ở chỗ làm thường là lúc bụng đã đói, nên chắc chắn sẽ không bị bỏ bứa hoặc nghe lời than vãn. Để cho chàng khỏi... thất vọng khi mở hộp lunch ra ăn, tôi đính kèm theo một sticky note có viết vài chữ rất ngọt ngào: “Tụi mình cùng nhau... thanh toán món này cho hết nghen anh! Love!” kèm theo khuôn mặt cười. Lần đầu trôi qua trót lọt, những lần sau như thế, khi cần “giải quyết” những thức ăn tồn đọng, tôi lại pack lunch cho chàng, không cần viết dài dòng trên note nữa, mà chỉ đơn giản một dấu hiệu mặt cười, có khi còn bonus thêm chữ “enjoy” để trong ngoặc kép hẳn hoi.

Chị bạn làm chung từng nói với tôi:

-          Em may mắn có chồng dễ ăn dễ tính, gặp chồng chị thì mơ đi nhé!

Tôi biết chồng chị, vừa gia trưởng vừa khó tính. Vợ nấu ăn giỏi, món Bún Bò Huế ngon có tiếng, mà bữa nào chị lỡ tay luộc bún mềm quá hay chưa đủ độ mềm như ý anh thì nhất quyết không đụng đũa, vợ phải đi luộc rổ bún khác. Có lẽ tại chị nấu ăn ngon quá nên chồng chị cũng đòi hỏi cao. Với tôi, chồng biết điều, chấp nhận “số phận” là thế.

Giờ đây, bước vào tuổi trung niên sồn sồn, tôi hạn chế làm các món thịt đỏ, mà ưu ái thịt gà. Hôm tuần rồi nhân dịp Costco bán gà on sale, tôi khuân về một thùng, cả tuần quanh quẩn gà kho xả, gà kho gừng, cháo gà, canh gà hầm rau củ, gà nướng, gà chiên ... Cuối cùng chồng tôi cũng phải e dè, lên tiếng:

-          Em à, em ăn gà hoài, em có ngán chưa? 

Tôi... thông cảm:

-     Ngán rồi, bởi vậy bữa nay cuối tuần em đã mua một ký bánh cuốn, kèm chả lụa, bánh cống cho chúng ta đổi món nè.

Rồi tôi tiếp luôn:

-          Thôi từ nay, anh và em ráng kiêng khem mấy ngày trong tuần, để weekend sẽ được đi ăn tiệm, hoặc order về nhà, nghen anh!?

Dĩ nhiên là chàng gật đầu chấp thuận không có ý kiến ý cò gì khác. Ngày cuối tuần Fathers Day sắp tới, tôi sẽ đãi chàng và cả nhà một bữa tại nhà hàng “Steak” nổi tiếng của thành phố, để cám ơn chàng, ba của các con tôi, suốt 30 năm qua, không những đã chịu đựng tôi với tính khí “sáng nắng chiều mưa”, mà còn chịu đựng cả khả năng nội trợ cũng... lên xuống thất thường không kém gì cái tính nết “ba rọi” kia của tôi.

Chàng đã giữ đúng lời hứa như thuở ban đầu, chuyện ăn uống không quan trọng, em nấu gì, miễn là nấu chín, anh cũng thấy... ngon.

Edmonton Fathers Day 2024,

KIM LOAN

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.