TRANG THƠ

17/08/202318:35:00(Xem: 5065)

Medard Klein (American, 1905 - 2002)

THY AN

Thầm thì Bruxelles

 

Bruxelles vòng tay mở rộng

hồn nghệ sĩ lang thang đường phố

bức tranh vẽ tường cảnh màu lố nhố

Marolles xóm nghèo góc nhỏ

con hẻm mờ mờ 

thềm đá rong rêu…

 

Parc Royal lặng lẽ buổi chiều   

ngón tay ngờ nghệch bỏ nỗi buồn vào túi

thế kỷ đặt bao nhiêu câu hỏi

khoảng trống nào còn được bình yên

cho Magritte lặng yên góc bảo tàng

cho công viên thì thầm hàng bạch quả

tượng đồng Leopold bôi sơn đỏ quậy phá 

đá nát vàng phai ôi một thuở hoàng kim…

 

tạt về đây người lữ khách im lìm  

suy nghĩ làm chi những thăng trầm lịch sử

hãy bước lên ngọn đồi xanh cỏ

Atomium đón nắng mặt trời

rồi gục đầu như kẻ vô gia cư

cầu thang cũ lắc lư  

Saint-Hubert sánh vai hò hẹn

tấm thảm hoa Grand-Place

đèn vàng Albertine nức nở thâu đêm

 

ốc gạo, chocolat và khoai chiên ngày êm đềm  

ly Jupiler mềm môi trắng bọt

Gare Midi dập dìu hội chợ

về đây bạn tâm giao một thuở

kể nhau nghe những tình nhân sớm tối

rồi vỗ tay cười sợi tóc bạc thương đời…

 

Bruxelles nhè nhẹ những nỗi buồn buông lơi

sáng nắng rồi chiều mưa đất ẩm

vuốt tay tượng đồng t'Serclaes với lời ước nhỏ

Manneken Pis đêm tàn góc phố

mưa phùn La Bourse áo mỏng thấm vai

khàn khàn Jacques Brel quán cóc bên đường

Saint-Michel Gudule chìm trong sương lạnh

ngõ tối nào đưa ta về Monnaie im vắng

đọc bài thơ Victor Hugo lãng mạn

cùng trái tim nàng Drouet chung thủy một đời

 

Bruxelles vẫn cùng ta ngọt mềm  

trôi về đây những ngôn từ mời gọi

chút thầm thì bên hiên rơi xuống

chân mỏi mòn nền đá trơn đêm…

 

(tháng 08-2023, tặng những người thương mến Bruxelles)

 

*

 

LÊ MINH HIỀN

 

TƯƠNG TƯ THU

 

Sớm...

bước xuống

dường như

Thu

nguyên mùa vàng mới

trong tinh mơ

nghe lành lạnh

tràn về

 

Nhớ quá chừng

em

nóng hổi

ngọt thơm

anh

ôm trọn ngu ngơ

về thơ dại

 

Chút mỏng buồn

vun dày

theo ngày tháng

mộng tàn canh

thương tiếc vạn kỷ sầu

 

Cố hương

 xa vạn dặm

em

vừa đó nghìn trùng

Thu

có về sáng nay

anh

rồi cũng

bạc đầu

 

 

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI THƯƠNG

 

Bão lòng nỗi nhớ còn xanh

hạ nâu thu tím xa dần huyền mơ

rêu vàng phố nhỏ ngu ngơ

đường chiều bước thấp bước cao gập ghềnh

 

em đi cát mộng thùy dương

cồn hoa làng cũ yêu đương tuyệt mù

mây mưa từ độ tàn thu

nụ nguyên sớm nở sầu đâu mưa nguồn

 

anh về áo vũ cơ hàn

trắng hồn đêm xuống đại ngàn chiêm bao

vu sơn trên đỉnh hư hao

khe non cỏ mượt bờ lau một lần

 

thì thôi mộng ước phù vân

chút duyên tiền kiếp bẽ bàng hợp tan

thì thôi giữ ngọc gìn vàng

nợ tình quẳng gánh ân cần mai sau

 

thì thôi môi ấy mắt sâu

giọng oanh hơi ngọng ra điều hồn nhiên

còn nhau một chút tình riêng

nhớ nhau xin một chút hờn làm ngoan

 

nửa đêm thơm ngát hoàng lan

giật mình còn ngỡ mùi thương thuở nào

giọt sương lạnh ngắt như tờ

một mình ngơ ngác ngưỡng bờ tử sinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.