phân thân | autotomy

17/07/202511:03:00(Xem: 3645)
Phân Thân _ Đinh Cường
Tranh Đinh Cường

 

Khi lâm nguy, loài sứa biển tự mình chẻ đôi
một nửa phó cho đời nuốt chửng,
nửa còn lại tự tìm lối thoát thân.

xác thịt xé đôi, giữa diệt vong-cứu rỗi
mất gì được gì
giữa những điều đã qua
những gì sắp tới.

rạch vạch nứt giữa thân
mở ra ranh giới hai đầu


bên đây sống, bên kia chết
đằng này hy vọng, đằng kia tuyệt vọng

chiếu từ bàn cân
hai bên nặng nợ như nhau

chết phần phải chết – không thể chết hết
sống phần còn sống – còn phải sinh sôi.

Chúng ta cũng vậy, cũng biết phân thân

giữa xác phàm – bài thơ ta bay lên
thầm thì không ngơi

bên này cuống họng, bên kia nụ cười
bên này tỏa sáng bên kia vụt tắt

một bên lòng tàn lụi, một bên non omnis moriar
chỉ là những thanh âm, nhẹ hẫng hút biến

và vạch nứt – không thể tách ta làm hai
mở ra, nuốt ta vào đó.

Wisława Szymborska  | Nguyên Yên phỏng dịch

 

*non omnis moriartôi sẽ không chết hết
Câu trích từ thơ Horace. “Non omnis moriar” – nghĩa là: “Tôi sẽ không chết hết.” Hay một phần của ta – lời nói, thơ ca, hay ký ức – sẽ sống tiếp sau cái chết của thân xác.

 

autotomy  

When in danger the sea-cucumber divides itself in two: 
one self it surrenders for devouring by the world, 
with the second it makes good its escape. 

It splits violently into perdition and salvation, 
into fine and reward, into what was and what will be. 

In the middle of its body there opens up a chasm
with two shores that are immediately alien. 

On one shore death, on the other life. 
Here despair, there hope. 

If a scale exists, the balance does not tip. 
If there is justice, here it is. 

To die as much as necessary, without going too far. 
To grow back as much as needed, from the remnant that survives. 

We know how to divide ourselves, how true, we too. 
But only into a body and an interrupted whisper. 
Into body and poetry. 

On one side the throat, laughter on the other, 
that's light and quickly dying. 

Here a heavy heart, there non omnis moriar
just three little words like three feathers in ascent. 

The chasm does not cut us in two.  The chasm surrounds us.


wislawa szymbors | English translation by Magnus J. Krynski and Robert A. Maguire

In memoriam Halina Poświatowska

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vó ngựa cuồng rông đường thiên lý / theo về bụi đất rợp đồng hoang / mắt xanh đã mờ dấu kim-cổ / tự tình rớt lại những bâng khuâng.
ngồi đây tóc rối bời bời / xuân đông thu hạ gọi mời thiên thu / cảm lòng một chút sương mù / thấm lưng nghe mỏi tiếng ru chợt buồn.
Khi còn nhỏ, mẹ thường nhắc đi cầu tiêu vì tôi ham chơi. Nơi đó trở thành quen thuộc. Khi đi tu, trong nhà dòng, tôi thích vào nhà cầu, ngồi rất lâu. Khi đã quen không khí, yên tĩnh, không ai quấy rầy.
Có thể nói đây là thời thổ tả lẫn lộn vĩ nhân với những anh hề vở hài kịch không màn kết cục ngoặt nghoẽo cười cho đến tái tê
Lửa chưa chắc đốt nơi hỏa ngục hay điện ngục, nhưng bập bùng trong lòng. Chén bát khăn đũa ngóng chờ - đã quá giờ. - Thật không đến sao? Bưng con gà quay cất vào tủ lạnh.
Việt Nam ơi, Miền Trung đó! Đất khó bao năm cày lên sỏi đá, Mưa nguồn nước lũ bạc đầu thôn. Gió trút cây ngàn che núi xả, Mẹ thiên nhiên dang cánh rộng vuông tròn.
tôi đi trên cánh đồng cỏ dại hoa lá mùa hè thức dậy có những hương thơm làm ngây ngất tấm lòng chung thủy sắt son có những con chim biết hót tiếng trong và dài như hơi thở của sống còn gang tấc
Quá nửa khuya, phiếu bầu ông Trump thắng thế. Phe này reo hò, phe kia ủ rũ, Quá mỏi mệt, tôi ngủ ngồi. Chiêm bao. Thấy ông Trump đến nhà. Hỏi thăm sức khỏe. Ông sờ tôi từ đầu đến chân. Sờ đến đâu, tôi trắng đến đó.
Người ta đang đi đâu mà ngược về hai phía? họ đã đi như thế từ thời ông Adam
Chôn đau vào lũ triều dâng cuốn phăng cơ nghiệp mộ phần tổ tiên rú hờn rừng giận núi thiêng lằn ranh sống chết nhỡn tiền mắt ta