Hôm nay,  

2 tuyển tập dịch thơ Tuệ Sỹ của Terry Lee và Phe X. Bạch

21/05/202510:24:00(Xem: 2424)

2 tuyển tập dịch thơ Tuệ Sỹ

của Terry Lee và Phe X. Bạch
 

Nguyên Giác

  

blankHai bìa sách
 

Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
 

Cuốn sách đầu tiên nhan đề "Tuyển Tập Thơ Tuệ Sỹ: Selected poems by Tuệ Sỹ" của hai dịch giả Terry Lee và Phe Bach, dày 264 trang, do Lotus Media xuất bản. Sách này song ngữ. Xuất bản trên Amazon từ ngày 22 tháng 11 năm 2023, khi Thầy Tuệ Sỹ còn sinh tiền. Vừa kịp lên mạng. Vì Thầy Tuệ Sỹ viên tịch ngày 24/11/2023. Hiện thời trên Amazon bán ấn bản bìa mềm với giá $5.09 tại:

https://www.amzn.com/dp/B0CP31CLKQ

 
Lời giới thiệu song ngữ trên Amazon viết, trích phần Việt ngữ: “Tập sách song ngữ này làm để cầu an cho Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ. Thầy là một thiền sư, một vị cao tăng thạc đức, xứng đáng với danh hiệu "Long Tượng", bậc Thầy của nhiều vị Thầy, đầy đủ bi-trí-dũng-nhẫn. Về đời, Thầy dạy chúng con "Một chút phù danh, một chút thế lợi, một chút an nhàn tự tại; đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm thường và giả ngụy, mà ngay có người đời nhiều kẻ còn vất bỏ không tiếc nuối để giữ tròn danh tiết. Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, là nơi tụ hội của cặn bã xã hội", và Thầy đang sống đúng theo lời dặn ấy. Thân giáo, khẩu giáo và ý giáo của Thầy là kim chỉ nam cho chúng con học hỏi, hành trì và tiếp nối.”
 

Trong khi đó, phần giới thiệu dùng làm bìa sau của sách là của Keith Carmona, một Giảng viên tiếng Anh:

"Người ta nói rằng nhà tù có thể thay đổi một con người, mang đến một góc nhìn mới và việc giam giữ đó hạn chế cả không gian và quyền tự do. Theo một nghĩa khác, nó cũng có thể tập trung tâm trí để suy nghĩ sâu hơn, bộc lộ sự rõ ràng mà việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài có thể không làm được. Đối với Hòa thượng Tuệ Sỹ, hai chân lý được thể hiện trong thơ ông: cái đẹp và cái bi kịch, cái trẻ và cái già, cái được biết và cái vô hình. Tuệ Sỹ không bao giờ than phiền hay than thở về cảnh tù đày của mình. Thay vào đó, nỗi buồn cho quê hương và vẻ đẹp của những giấc mơ được đan xen trong những bài thơ của ông để làm sáng tỏ sự phức tạp của con người chúng ta trong cuộc sống này và những bí ẩn ở kiếp sau.

Keith Carmona, Giảng viên tiếng Anh Tú tài Quốc tế, IB program."
 

Trong tuyển tập song ngữ "Tuyển Tập Thơ Tuệ Sỹ: Selected poems by Tuệ Sỹ" hai dịch giả giải thích trong Lời Dẫn, trang 11-12:
 

“Chúng con là 2 người con Việt an cư lạc nghiệp ở xứ người, cùng sinh ra ở Việt Nam, nhưng cách nhau 22 năm, và 12 ngàn cây số, vì một người sống ở Sydney, Úc, còn người kia sống ở Sacramento, California, Hoa Kỳ.

“Tuy thế, chúng con có cùng mẫu số chung là ngưỡng mộ, kính trọng và thương yêu Thầy, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, về mọi phương diện: đạo và đời. Về đạo, Thầy là một thiền sư, một vị cao tăng thạc đức, xứng đáng với danh hiệu "Long Tượng", bậc Thầy của nhiều vị Thầy, đầy đủ bi-trí-dũng nhẫn. Về đời, Thầy dạy chúng con "Một chút phù danh, một chút thế lợi, một chút an nhàn tự tại; đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm thường và giả ngụy, mà ngay có người đời nhiều kẻ còn vất bỏ không tiếc nuối để giữ tròn danh tiết. Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, là nơi tụ hội của cặn bã xã hội", và Thầy đang sống đúng theo lời dặn ấy. Thân giáo, khấu giáo và ý giáo của Thầy là kim chỉ nam cho chúng con học hỏi, hành trì và tiếp nối.

“Thêm nữa, Thầy còn là một thi sĩ tài hoa. Những bài thơ Thầy viết trước năm 1975, trong tù, hay gần đây đều chứa đầy lòng từ bi và nỗi trăn trở cho số mệnh đất nước và dân tộc. Thơ Thầy chứa nhiều ẩn dụ, những trạng thái cảm xúc gợi nhiều liên tưởng, những tương tác tự truyện với kinh nghiệm sống độc nhất vô nhị, tiếc là có thể nhiều người đọc, nhất là giới trẻ, không hiểu trọn vẹn ý Thầy, nên chúng con mạo muội dịch thơ của Thầy sang tiếng Anh để cho lớp trẻ ở Hải ngoại hiểu thêm tinh hoa của Thầy nói riêng và của dân tộc Việt nói chung. Hy vọng những cố gắng này được nhiều người đọc để hiểu Thầy hơn và càng ngày thương yêu tổ quốc và dân tộc chỉ vì cho "một xã hội hài hòa, an lạc, một dân tộc bao dung nhân ái trong một đất nước thanh bình".

“Khi thấy sức khỏe của Thầy suy sút, chúng con cùng chắp tay cầu nguyện Tam Bảo che chở và hộ trì cho Thầy tiêu tan bách bệnh. Chúng con dịch thêm và kết tập trong một thời gian ngắn nên có thể có thiếu sót, nhưng mong muốn dâng lên để cầu an cho Thầy. Nếu có công đức nào, chúng con nguyện xin hồi hướng cho Thầy thêm sức khỏe và sớm hồi phục, để tiếp tục dẫn dắt chúng con trên con đường tu học và phục vụ tha nhân.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Terry Lee and Phe X. Bach

Tháng 10 năm 2023.” (hết Lời Dẫn)

.

Trong khi đó, tuyển tập song ngữ nhan đề "Dreams on the peaks of the Mountains" của Terry Lee, dày 476 trang, dịch và giải thích thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Sách này in hạn chế để cúng dường, không bán ở mạng, và độc giả có thể được tặng bản PDF. Liên lạc tác giả Terry Lee ở email:

[email protected]

 
Trong phần Prologue, dịch giả Terry Lee viết, nơi đây người giới thiệu sách xin dịch sang tiếng Việt trích một phần như sau:

“Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách "Dreams on the peak of the Mountain," tôi đã đổi tên thành "Dreams on the peaks of the mountains."

Ngọn núi (The Mountain), trong tựa đề của lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách, ám chỉ dãy núi Trường Sơn, nơi Thầy Tuệ Sỹ đã tâm sự những giấc mơ của mình khi còn sống, nhưng tôi tin rằng, những giấc mơ của Thầy đáng lẽ phải thành mây, rải rác trên mọi ngọn núi ở Việt Nam, như Thầy mong muốn trong di chúc của mình.

Sự hùng vĩ và độc đáo của Trường Sơn đáng lẽ phải trở thành biểu tượng của khát vọng và khả thể cho tất cả những ngọn núi của Việt Nam, phản ánh tinh thần vô biên trong tầm nhìn của Thầy.

Qua bản dịch các bài thơ của Thầy, tôi đã rất xúc động trước tác động sâu sắc của Thầy đối với cả văn hóa Việt Nam và Thiền tông. Thầy đã đan xen các nguyên lý Thiền vào những câu thơ của mình, lấy cảm hứng từ sự giản dị của một dòng suối, sự bình dị của một hạt cải, và thậm chí cả những dấu vết mỏng manh của rêu còn sót lại trên mí mắt.

Cuốn sách này trình bày các bài thơ của Thầy bằng cả bản gốc tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh, mang đến cho độc giả một cửa sổ vào thế giới nội tâm phong phú của Thầy. Đối với tập Somniloquies in prison, tôi cũng thêm một bản dịch thơ sang tiếng Việt, cố gắng nắm bắt những sắc thái trong phong cách của Thầy.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của những bài thơ này, tôi đã tập hợp một số bài tiểu luận và bản dịch của Thầy, cùng với những bình luận sâu sắc từ các nhà phê bình, nhà thơ và nhà văn được kính trọng. Bộ sưu tập này phản ánh bề rộng di sản của Thầy, vượt xa thơ ca của Thầy.

Đối với các bài tiểu luận và bình luận này, văn bản tiếng Anh gốc và bản dịch của tôi được phân biệt trực quan bằng các dấu hiệu đường viền bên trái khác nhau: một dòng đôi cho bản gốc và một dòng đơn cho bản dịch của tôi...”
 

Tiếp theo, dịch giả Terry Lee giải thích về 7 tập trong bản dịch. Các bản dịch và giải thích công phu của Terry Lee cho thấy một nỗ lực rất kỹ lưỡng, sẽ giúp rất nhiều cho những người muốn đọc và nghiên cứu về thơ của Thầy Tuệ Sỹ cả trong tiếng Việt và tiếng Anh.
 

Nhìn chung, không chỉ là Phật tử, cả hai dịch giả Terry Lee và Phe X Bach đã chứng tỏ được sức làm việc nghiêm túc. Cả hai tuyển tập đều cần thiết trong tủ sách của những người yêu thơ và yêu Thiền Tông nói chung, và cụ thể là yêu kính Thầy Tuệ Sỹ.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.