Hôm nay,  

Bốn ngàn ngày và đêm

20/09/202212:17:00(Xem: 4150)

Văn học

japanese lake 

 

Tóc sau gáy tôi đứng dựng lên khi đọc mấy câu thơ treo trên trang Facebook của nữ sĩ LDV:

 

Để có sự hiện diện của một bài thơ,

bạn và tôi đã phải giết,

phải giết chết nhiều thứ,

nhiều điều dấu yêu, giết bằng súng, ám sát,

giết bằng độc dược.

 

Để làm ra một bài thơ mà phải hung tợn, phải bạo hành thế ư? Xin mời đọc tiếp:

 

Hãy nhìn kìa!

Từ trong bầu trời bốn ngàn ngày và đêm,

chỉ vì chúng ta muốn cái lưỡi run rẩy của một con chim nhỏ,

bốn ngàn đêm nín lặng và bốn ngàn ngày thỏa hiệp,

bạn và tôi tiêu diệt bắn giết.

Hãy lắng nghe!

Từ trong tất cả những thành phố mưa bay, những lò nung chảy

những bến cảng hạ chí, và những mỏ than,

chỉ vì chúng ta cần lắm nước mắt của một đứa trẻ đói khát,

bốn ngàn khối tình thương đất sét và bốn ngàn đêm trắc ẩn,

bạn và tôi tiêu diệt, ám sát.

Hãy nhớ kỹ!

chỉ vì chúng ta muốn nỗi kinh hoàng của một con chó hoang,

nó có thể thấy được những điều tôi và bạn không thể nhìn bằng chính đôi mắt mình,

và có thể nghe được những điều tôi và bạn không thể nghe bằng chính đôi tai mình,

bốn ngàn đêm ảo giác và bốn ngàn ngày hồi ức hãi hùng,

bạn và tôi tiêu diệt bằng thuốc độc.

Để có được một bài thơ

bạn và tôi đã phải thủ tiêu nhiều điều dấu ái.

Đây là cách duy nhất để mang chúng về từ cõi chết

bạn và tôi phải làm theo cách đó.

(Bản dịch của LDV)

 

Té ra là “giết nhiều điều dấu ái” để “mang chúng về từ cõi chết.”

Xin mời đọc lại vài đoạn trong bài Phục Sinh của Thanh Tâm Tuyền:

 

tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh

tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật. (TTT)

 

Tác giả của bài thơ là Tamura Ryuichi (1923-1998). Ông họ Điền Thôn, tên Long Nhất. Tôi gọi ông là Thanh Tâm Tuyền của Nhật Bản vì mấy lý do khác nhau. Tamura Ryuichi từng được huấn luyện để làm phi công cảm tử trong Đệ Nhị thế Chiến nhưng cuối cùng ông không được tham chiến vì lý do sức khỏe. Thay vì đi góp phần vào cục diện Thế chiến Thứ Hai, Tamura Ryuichi ở lại để làm thay đổi bộ mặt thi ca Nhật Bản qua tạp chí Wasteland.  Vai trò của ông trên thi đàn Nhật thật chẳng khác với Thanh Tâm Tuyền trong cách làm mới thơ tự do những thập niên 50-60 ở miền Nam. Ảnh hưởng của ông lên các thế hệ thi sĩ Nhật tiếp nối rất sâu đậm. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng danh dự về thi ca ở Nhật.

 

Trong bản dịch của nữ sĩ họ Lưu có hai chữ đã làm tôi mấy đêm trăn trở, lục lọi đi tìm trên mạng xem trong nguyên tác hai chữ“hạ chí” trong cụm từ “những bến cảng hạ chí” ấy vốn là chữ nào? Tác giả Tamura Ryuichi đã muốn nói gì với cụm từ ấy?

 

Với tôi thì “hạ chí” là một thời điểm trong chu trình chuyển động của trái đất quanh mặt trời, là một ngày nhất định trong Dương lịch, và cũng cả trong Âm lịch. Người Tây phương gọi ngày hôm đó là ngày bắt đầu của mùa hạ, khi trái đất đi ngang kinh độ 90o trên đường hoàng đạo (~22 tháng 6, ngày Hạ Chí, summer soltice). Người Á Đông thì bảo hôm đó là ngày chính giữa mùa hạ vì mùa hạ theo họ bắt đầu trước đó 45 ngày, khi trái đất nằm ở kinh độ 45o (~6 tháng 5 ngày Lập Hạ.) Tôi không biết bài thơ trên được dịch từ phiên bản Anh ngữ nào. Nhưng hai bản tiếng Anh tôi tìm thấy trên mạng đều viết là “midsummer.” Chữ này có khi cũng đồng nghĩa với “summer solstice.” Dịch là “hạ chí” thì đúng rồi. Nhưng cái ông họ Điền Thôn tên Long Nhất ấy đã dùng chữ nào trong nguyên tác? Sau một lúc lọ mọ trên mạng tôi đã tìm được bài thơ trong nguyên tác tiếng Nhật. Câu thơ có hai chữ ấy là:

 

真夏の波止場と炭坑から (Chân hạ…ba chỉ trường…thán khanh…)

Không phài “hạ chí” mà là “chân hạ”, là ngay trong mùa hạ,  Kiến thức về Nhật ngữ của tôi vỏn vẹn nằm không đầy quyển sách vỡ lòng 𝐾𝑎𝑛𝑗𝑖 của J.W. Heisig. Nhưng Nhật ngữ vốn được viết một phần bằng chữ Hán Kanji (Kan= Hán, ji=tự, chữ tượng hình) hợp chung với một phần là loại chữ riêng của người Nhật là Kana (kari=giả, na=danh, chữ âm tiết), nên tôi đã có thể nhận ra hai chữ đang làm mình mất ngủ là “chân hạ” (真夏). Các dịch giả tiếng Anh dùng chữ midsummer để dịch chân hạ thì hợp lý, vì ngoài nghĩa summer solstice hay hạ chí (夏至), midsummer còn có nghĩa là giữa mùa hạ, ám chỉ các mùa lễ hội ở Âu châu khoảng thời gian gần ngày hạ chí. Và tôi đoán là có lẽ trong câu thơ ấy tác giả Tamura Ryuichi muốn nhắc đến một ngày nắng hạ chói chang trên cầu tàu bến cảng, đối với ngày mưa gió bão bùng giữa lòng phố thị ở câu trên.

 

Thơ thì mỗi người cảm mỗi cách. Các bản Anh ngữ cũng trưng hiện đôi ba ý khác nhau. Tôi cũng hiểu theo cách có phần khác họ. Xin trình bản dịch theo ý riêng như sau:

 

BỐN NGÀN NGÀY VÀ ĐÊM

Tamura Ryuichi ( 田 村 龍 一)

Điền Thôn Long Nhất

 

Để một bài thơ được ra đời

Ta phải giết đi

Giết đi nhiều điều ta yêu mến

Phải xạ sát, ám sát, độc sát

 

Nhìn kìa,

Từ trời không của bốn ngàn ngày và đêm

Để có được cái lưỡi run rẩy của con chim bé nhỏ

Chúng ta đã phải nổ súng,

Phải xạ sát sự tĩnh lặng của bốn ngàn đêm

Phải xạ sát tia nắng dội của bốn ngàn ngày

 

Nghe này,

Từ phố phường gió mưa hay trong lò luyện thép,

trên bến tàu nắng hạ hay dưới hầm mỏ than,

Để mang về giọt lệ của đứa bé đói bụng

Chúng ta đã phải lén lút ngấm ngầm

Phải ám sát tình yêu thương của bốn ngàn ngày

Phải ám sát lòng trắc ẩn của bốn ngàn đêm

 

Nhớ là,

Nhìn ra những điều mắt không nhìn thấy

Nghe thấy những điều tai không nghe ra

Để thấy được sự sợ hãi của con chó hoang

Chúng ta đã phải dùng độc dược,

Phải độc sát sức tưởng tượng của bốn ngàn đêm

Phải độc sát mảng ký ức của bốn ngàn ngày

           

Để có được một bài thơ

Ta phải giết đi nhiều điều ta yêu mến.

Đây là cách duy nhất

Để phục sinh những gì đã chết

Là con đường bắt buộc

Phải đi qua.

 

Tại sao lại bốn ngàn ngày? Thưa bài thơ được viết khoảng năm 1955, 1956, bốn ngàn ngày sau khi hai quả bom nguyên tử nổ ờ Hiroshima và Nagasaki tháng 8 năm 1945.  

 

Thật ra thì ý tưởng tự hủy hoại để tái sinh từng được nhắc đến từ lâu, như hình ảnh phượng hoàng phục sinh từ tro tàn lửa thiêu trong thần thoại Hy Lạp. Nhưng đều là những hành động tự kết liễu, hay “tự bóp cổ” như lời TTT. Như là hành động tự do cuối cùng có thể có của một con người.  Nhưng giết đi những gì ta yêu mến lại là điều khác. Giết đi sự tĩnh lặng, giết đi tình thương yêu, giết đi sức tưởng tượng của bốn ngàn ngày và ký ức của bốn ngàn đêm, phải chăng là công cuộc phải giết đi sử lịch để làm làm phục sinh lịch sử? Dân tộc Nhật Bản đã ý thức và đã làm điều ấy sau 10 năm.

 

Đã hơn 45 năm sau cuộc huynh đệ tương tàn. Sắp đến lượt người Việt chưa vậy? Hay còn đến bao giờ?

 

Tô Thẩm Huy

(Houston, Tiết Thu phân, Nhâm Dần, 2022)


Phụ lục:
 

Bản tiếng Anh của Samuel Grolmes và Tsumura Yumiko, University of Hawai’i Press:

Four Thousand Days and Nights

For one poem to be born
we must kill
We must kill many things
We shoot, assassinate, poison the many things we love

Look
We shot
the silence of four thousand nights and the glare of
    
                                                                    four thousand days
simply because we wanted the trembling tongue of one small bird
from the sky of four thousand days and nights

Listen
We assassinated
the love of four thousand days and the pity of four thousand nights
simply because we needed the tears of one hungry child
from all the rainy cities and blast furnaces
and the midsummer wharves and the coal mines

Remember
We see things our eyes cannot see
We hear things our ears cannot hear
We poisoned
the power of imagination of four thousand nights
    
            and the cold memories of four thousand days
simply because we wanted the fear of one stray dog

To give birth to one poem
we must kill the things we love
This is the only road to take to resurrect the dead
This is the road we have to take

 

Và bản tiếng Anh của Stavros Deligiorgis, University of Iowa. So sánh hai bản Anh ngữ sẽ thấy có vài dị biệt.

 

Four Thousand Days and Nights

 

For the birth of one poem

we must kill

we must kill many

we must shoot, assassinate, poison many beloved.

 

Look, simply because we wanted the trembling tongue of a small bird

from four thousand days and nights

we shot the silences of four thousand nights and

the backlight of four thousand days.

 

Listen,

simply because we wanted the tears of a starving child

in all the rainy cities, the smelting furnaces and

midsummer wharves and coal mines

we assassinated the love of four thousand days

and the pity of four thousand nights.

 

Bear it in mind,

because we wanted the fear of a stray dog

 who sees what we cannot see

who hears what we cannot hear

we poisoned the imagination of four thousand nights and

chilly memories of four thousand days.

 

To give birth to one poem

we must kill our beloved.

This is the only way to resurrect the dead,

the way we must take

 

Nguyên tác tiếng Nhật (các chữ Kanji phiên âm sang Hán Việt):

 

四千の日と夜 Yonsen No Hi Yoru

Tứ thiên nhật dạ

nhất thiênthi が sinh れるためには、
われわれは sát さなければならない
đa くのものを sát さなければならない
đa くの ái するものを xạ sát し、ám sát し、độc sát するのだ

 

kiến よ、
tứ thiênnhậtdạkhông から
nhất tiểu điểu のふるえる thiệt がほしいばかりに、
tứ thiêndạtrầm mặc と

tứ thiênnhậtnghịch quang tuyến
われわれは xạ sát した

thính け、
のふるあらゆる đô thị 、dung khoáng
chân hạba chỉ trườngthán khanh から
たったひとりの えた tử cung? がいるばかりに、
tứ thiênnhậtáitứ thiêndạliên みを
われわれは ám sát した

ức せよ、
われわれの nhãnkiến えざるものを kiến
われわれの nhĩthính えざるものを thính
nhất thất lương khuyểnkhủng bố がほしいばかりに、
tứ thiên の dạ の tưởng tượng lực と tứ thiên の nhật のつめたい kí ức を
われわれは độc sát した

nhất thiên のthi が sinh むためには、
われわれはいとしいものを sát さなければならない
これは tử giả を tô らせるただひとつの đạo であり、
われわれはその đạo を hành かなければならない

 

Chú thích: Thích nghĩa một vài từ chính:

 

一篇 詩 nhất thiên thi: một bài thơ

れるためには: để có thể

われわれ: chúng ta

殺 sát: giết

さなければならない: phải

多 くのものを: nhiều điều

愛 ai: yêu

射殺 xạ sát: giết bằng súng đạn

暗殺 ám sát: giết bằng âm mưu

毒殺 độc sát: giết bằng độc dược

見 kiến: trông thấy、

四千tứ thiên; bốn ngàn

日夜 nhật dạ: ngày đêm

空 không: Trời không

一羽の小鳥 nhất vũ tiểu điểu: một cánh chim nhỏ

のふるえる: run rẩy

舌 thiệt: lưỡi

がほしいばかりに: chỉ vì ta muốn

沈黙 trầm mặc: lặng lẽ

逆光線 nghịch quang tuyến: luồng ánh sáng dội ngược

射殺 xạ sát: bắn chết

聴 Thính: Nghe

雨 Vũ: Mưa

都市 Đô thị: Phố phường

溶鑛 炉 Dung Khoáng lô: Lò luyện kim、

真夏 Chân hạ: Ngay giữa mùa hè

波止場 Ba chỉ tràng: Cầu tàu

一匹 野良犬 Nhất thất dã lương khuyển: Một con chó hoang

死者 Tử giả: Kẻ đã chết

甦 Tô: Sống lại

らせるただひとつの道: Con đường duy nhất mà...

を行かなければならない: Phải đi

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi biết BS. Phạm Gia Cổn lúc tôi vừa tập tễnh bước vào đời lính, nhận trách nhiệm làm y sĩ trưởng cho Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng một tiểu đoàn mà BS. Cổn vốn là y sĩ tiền nhiệm 2 năm trước. Tôi lội bộ theo TĐ, Anh làm chỉ huy trưởng Bệnh Viện Dã Chiến Đỗ Vinh tại căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở BV Dã Chiến khi tôi theo trực thăng chuyển thương binh. Tôi nhìn thấy anh cao lớn, rất phong độ, uy dũng, với 3 bông mai đen ở cổ áo hoa rừng và dấu hiệu 3 đấm tay của Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Tae Kwon Do ở túi áo trước ngực bên trái. Nhìn vào Anh, tôi có cảm giác như một tảng đá mạnh bạo, có tinh chất võ biền mà mình có thể dựa lưng khi cần. Dù hình tướng có vẻ rất quân kỷ, nhưng thái độ anh lại hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, cởi mở nhưng trực tính. Anh đã cho tôi sự tự tin và niềm vui trong tình huynh đệ. Về sau, tôi cũng biết tin anh được đề cử làm Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trong trận bảo vệ phòng truyến Phan Rang vào đầu tháng 4, 1975.
Hầu như mỗi cuối tuần, cô ấy và tôi đều đi đâu đó bằng tàu điện hoặc xe buýt. Ở Ukraine, có thể đi xa trong cuối tuần và trở về đúng thời hạn. Chỉ một lần chúng tôi về trễ, đi làm muộn hôm thứ hai. Đó là ngày chúng tôi đón xe đi nhờ từ Milove, vùng Luhansk, vào tháng Giêng. Đây là nơi cực điểm miền đông của đất nước. Đi đến bằng xe buýt, lúc quay về, chúng tôi cầm tay nhau đi bộ dọc con đường phủ đầy tuyết. Thuở đó chúng tôi say mê nhau. Những anh chàng ở nhà bốn cửa kiểu Liên Xô cho chúng tôi đi nhờ, không có vấn đề, ngoại trừ mỗi lần họ chỉ chở chúng tôi vài kilô mét, rồi thả xuống để rẽ vào làng của họ. Nhìn ánh sáng xanh ngát buổi hoàng hôn, chúng tôi rùng mình và cảm thấy hạnh phúc.
"Happening", ghi lại ca nạo phá thai bất hợp pháp mà bà đã trải qua, vào năm 1963 ở tuổi 23 và là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của Audrey Diwan. Bộ phim đã được phát hành vào tháng 5 vừa qua, không lâu trước khi Tòa án tối cao pháp viện Hoa Kỳ kết thúc gần nửa thế kỷ Quyền bảo vệ sinh sản của liên bang bằng cách lật ngược Roe vs. Wade. Dù sau khi cải cách, Hàn Lâm Viên đã nỗ lực tuyên bố giải Nobel văn học đánh giá trên giá trị văn chương, nhưng câu hỏi vẫn được nêu ra: Giá trị văn chương và ảnh hưởng chính trị có biên giới ở đâu? Như trường hợp giải Nobel năm 2016, trao cho nhạc sĩ Bob Dyland. “Một nhạc sĩ kiêm nhà viết ca khúc, không phải tác giả. Mặc dù ông đã viết một hồi ký rất hay, một tập thơ dở và một bài diễn văn về The Eagles Woman.”* Việc này đưa đến nhiều dư luận phê phán, tạo ra tên gọi “kỷ nguyên hỗn loạn của giải Nobel.”
Trong quyển tiểu sử Gabriel García Márquez: A Life, Gerald Martin kể rằng García Márquez viết Trăm năm cô đơn chỉ trong vòng một năm, từ tháng 7 năm 1965 cho đến tháng 7 năm 1966, dù ông luôn nói rằng ông mất đến 18 tháng, hoặc có khi là 18 năm. “Trong một tia cảm hứng chớp nhoáng, ông đã nhận ra rằng thay vì viết một cuốn sách về thời thơ ấu của mình, ông nên viết một quyển sách về những kỷ niệm thời thơ ấu của mình. Thay vì một cuốn sách về hiện thực, nó nên là một cuốn sách về sự biểu thị của hiện thực […] Thay vì một cuốn sách về Aracataca và con người ở đó, nó sẽ là một quyển sách được thuật lại qua thế giới quan của họ.”….
Cuốn tiểu thuyết xoay quanh một cuộc giết người bí ẩn trên một hòn đảo Ottoman hư cấu nơi sinh sống của cả người Thổ Nhĩ Kỳ và người Hy Lạp, từ đó đưa ra các suy ngẫm về sức mạnh của các quốc gia hiện đại. Một số nhân vật quen thuộc của Pamuk: Abdulhamid II, một quốc vương đấu tranh để cứu đế chế Ottoman, có chung xu hướng chuyên quyền và Hồi giáo với tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, Recep Tayyip Erdogan. Một người khác hao giống người sáng lập đất nước, Kemal Ataturk. Đối với một cuốn tiểu thuyết lịch sử, "Nights of Plague" lại mang tính chất khá đương đại.
Annie Ernaux (tên khai sinh là Annie Duchesne; sinh ngày 1 tháng 9/1940) là một nhà văn và giáo sư văn học người Pháp. Ernaux lớn lên ở Yvetot ở Normandy. Xuất thân từ tầng lớp lao động, nhưng ba mẹ làm chủ một tiệm café-tạp hóa. Bà học ở Rouen và Bordeaux, dạy ở trường trung học và sau đó, trong 23 năm, làm việc cho một trường đại học đào tạo từ xa của Pháp, cned.
Khi mùa thu đến, những làn gió thu sẽ là nhân duyên đưa đẩy những chiếc lá, cả xanh lẫn vàng, rơi xuống cội, hoặc bay đi xa. Tâm không xao động. Vì đâu cũng là đất; đâu cũng là nơi chốn an ổn để trở về khi cuộc sống tương lai đã được chủ định sẽ như thế nào trong từng phút giây hiện tại.
Tôi có cơ hội đi dọc Việt nam sau hoà bình để kiếm sống chứ chẳng vì mục đích cao cả nào khác. Thời bao cấp đói nghèo thì ai cũng đã biết, nhưng không vì lý do thiếu thốn đủ thứ mà tô bún riêu mỗi nơi mỗi khác, nó mang đặc trưng vùng miền cũng không hẳn, vì trước năm 1975 thì tô bún riêu ở mỗi nơi đã mỗi khác trên đất nước có chiều dài như Việt nam ta.
Ngoài trời gió nhè nhẹ thổi, những chiếc lá mùa thu đang lãng đãng rơi rơi. Cái lành lạnh của gió heo may bên ngoài như đang hòa nhịp thở với những điệu nhạc “tiền chiến” mà tôi đang thưởng thức trong phòng đọc sách, một căn phòng đầy ấm cúng thương yêu...
Vào tháng Năm vừa qua, một người đàn ông Ấn Độ đã thiệt mạng khi cố gắng chụp ảnh “tự sướng” bên cạnh một con gấu bị thương. Đây là cái chết thứ ba liên quan đến việc chụp ảnh tự sướng ở Ấn Độ kể từ tháng 12 năm ngoái. Trong hai tai nạn khác, những con voi đã đạp chết hai người trong lúc họ đang cố gắng tự chụp với chúng trong hai lần “tự sướng” riêng biệt. Vào tháng 7 năm nay, Gavin Zimmerman, một người Mỹ du lịch đến Úc, 19 tuổi, đã mất mạng vì rơi xuống vực khi anh đang tự chụp ảnh tự trên một vách đá ở New South Wales.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.