Hôm nay,  

Giếng Xưa

02/07/202513:38:00(Xem: 5151)


Thi hào Nguyễn Du có bài thơ không dùng một thuật ngữ nào của Phật hay thiền môn, nhưng ý đạo thì mênh mông, sâu thẳm:

Đạo ý

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thủy vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả,
Thử tâm chung bất dao.
Túng bị nhân khiên xả,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy. (1)

Tạm dịch:

Trăng sáng chiếu giếng xưa,
Nước giếng không gợn sóng.
Không bị người khuấy lên,
Lòng này trọn không động.
Giả như bị khuấy đảo,
Lao xao rồi lặng ngay.
Mênh mông một mảnh lòng
Trăng sáng nước giếng xưa.

Giếng cạn thì nước mau vơi, có khi múc lên cả nước lẫn sình.

Giếng sâu, nước đầy, mới múc hoài không cạn.

Nếu khơi được mạch nước dưới lòng giếng thì nước mới vô hạn.

Nhớ giếng nước chùa Long Tuyền (2), sâu bốn thước, thành giếng cao hơn một thước. Các chú tiểu thanh thiếu niên, mỗi ngày thả gàu lấy nước tắm giặt, tưới cây, đổ đầy bồn nước cho nhà bếp và nhà vệ sinh. Gàu năm lít nước, thả dây xuống múc, giật một cái là gàu lên khỏi miệng giếng. Sức trai của những chú tiểu thuở ấy nay không còn. Nhưng nước giếng liên tục múc lên từ giếng xưa, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, hẳn vẫn còn đầy. Giếng thuở ấy bị khuấy động từ khi mặt trời chưa mọc. Đến trưa đứng bóng, giờ chỉ tịnh, nhìn xuống có thể soi được mặt mũi hồn nhiên tuổi thiên thần.

Thành giếng là Giới. Nước lắng là Định. Trăng soi là Tuệ.

Khi nước bị khuấy đảo, múc lên, chỉ là những xao động bề mặt. Giếng và nước không nẩy sinh sự đối kháng hay xung đột với sự khuấy động. Nước từ một giếng xưa, từ một cõi lòng nguyên sơ, luôn tĩnh lặng.

Chỉ từ một mặt nước tĩnh lặng, trăng mới có thể soi chiếu và tỏa sáng.

Chỉ từ một tâm bình thường, định tĩnh, những phiền não dục vọng mới có thể tan biến, hiển lộ trí tuệ siêu việt của bậc hiền nhân.

__________________

(1) Thơ Nguyễn Du: Đạo Ý

道意
明月照古井,
井水無波濤。
不被人牽扯,
此心終不搖。
縱被人牽扯,
一搖還復止。
湛湛一片心,
明月古井水。
(2) Chùa Long Tuyền, Hội An, tỉnh Quảng Nam. Trước năm 1975 là Phật Học Viện Trung Đẳng Quảng Nam. 40 tăng sinh tham dự Phật Học Viện này (niên khóa 1973 – 1977) là các chú Sa-di ngũ giới và thập giới, tuổi từ 13 đến 20. Tháng 4 năm 1975, toàn bộ các trường Phật học toàn quốc (từ miền Trung đến miền Nam Việt Nam) đều bị đóng cửa. Phật Học Viện Quảng Nam giải tán từ đó.

biachanhphap164
Hình bìa: Zahidul Islam Milton



CHÁNH PHÁP Số 164, tháng 06.2025

NỘI DUNG SỐ NÀY:

· THƯ TÒA SOẠN, trang 2

· TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3

· CỘNG TRÚ AN CƯ (thơ Thích Chúc Hiền), trang 6

· NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 7

· QUÁN TỰ TẠI (thơ Thụy Sơn), trang 9

· NGỒI ĐÂY MỘT MÌNH (Nguyên Siêu), trang 10

· NHỮNG CÁNH HOA ĐỜI (thơ Hàn Long Ẩn), trang 12

· PHỔ MÔN CHÚ GIẢNG (HT. Thích Thái Hòa), trang 13

· TỪ TÍN NGƯỠNG ĐẾN BẤT HOẠI TÍN (Thích Nguyên An) trang 16

· HỒ NGHI SẠCH LÀU (thơ Lãng Thanh), trang 19

· KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT VỀ CHỮ “TÂM” TRONG ĐẠO PHẬT (Khánh Hoàng), trang 23

· QUÊ HƯƠNG, NHỚ QUÊ (thơ Tuệ Uyển Nhi), trang 27

· THÔNG BÁO LỄ HỘI VU LAN 2025 (GHPGVNTNHK), trang 28

· THÔNG BÁO VỀ VIỆC ĐÌNH CHỈ KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP BẮC MỸ LẦN 12 (GHPGVNTNHK), trang 29

· DƯỚI MẶT TRỜI ĐẠI ĐỊNH (Nhóm Áo Lam), trang 30

· THƯ CUNG THỈNH VÀ THƯ MỜI LỄ HIỆP KỴ LỊCH ĐẠI TỔ SƯ – NGÀY VỀ NGUỒN LẦN 14 (HT. Thích Thông Hải), trang 31

· “THẤT GIÁC CHI” – BẢY YẾU TỐ GIÁC NGỘ TRONG ĐẠO PHẬT (TN Hằng Như), trang 32

· NẾM TRÁI CÂY (thơ TM Ngô Tằng Giao), trang 35

· ĐỌC NGÔ THỜI NHẬM: TÂM ĐỊNH, THẤY TÁNH (Nguyên Giác), trang 39

· PGVN TẠI HOA KỲ: 50 NĂM VÀ CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC (Huệ Đan), trang 41

· SÔNG MÊ BỂ ÁI, TỈNH MÊ (thơ xướng họa: Viên Minh & Minh Đạo), trang 46

· CHẤT BÉO OMEGA-3 (Bs. Nguyễn Ý Đức), trang 47

· TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N), trang 48

· TỨC TÂM TỨC PHẬT, NGHE MƯA (thơ Diệu Viên), trang 49

· MÙA HÈ XA LẠ (Yamakawa Masao – Hoàng Long dịch), trang 50

· ÁNH SÁNG ĐOÀN THỂ TĂNG GIỮA MÙA HẠ TỊCH LẶNG (Thích Nguyên Minh), trang 52

· TỨ CÚ LỤC BÁT “KHÓI” (thơ Vĩnh Hữu Tâm Không), trang 53

· NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT GIỮ LỬA ĐẠO TÂM (TV Truyền Thông), trang 54

· MÙA NẮNG VÀNG TƯƠI (thơ TN Giới Định), trang 56

· TỪ TRỜI CAO (thơ Lý Thừa Nghiệp), trang 58

· AJANTA – CHOÁNG NGỢP HÀNG NGHÌN TƯỢNG PHẬT THIÊNG XUYÊN NÚI (Hoang Phong lược trích), trang 59

· TỤ TÁN VÔ KỲ (Tiểu Lục Thần Phong), trang 62

· NÀNG KỸ NỮ PHỆ SA (Truyện cổ Phật Giáo), trang 64

· THE STORY OF A DECEIFUL BRAHMIN (Daw Tin), trang 66

TRÓI tập 2 – chương 16, t.t. (truyện dài Vĩnh Hảo), tr. 67

· CỞI TRÓI tập 2 – chương 16, t.t. & chương 17 (truyện dài Vĩnh Hảo), tr. 67


https://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202025/CP%20so%20164%20(07.25).htm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuy nhiên, như mặt trời giữa hư không, sau những lúc bị mây mù, khói bụi che khuất, rồi cũng xuất hiện tỏa sáng thế gian. Cũng vậy, mặt trời trí tuệ, vốn là Giác tính uyên nguyên của mọi loài chúng sinh, trong sinh tử trường kỳ bị che lấp bởi khách trần phiền não, rồi cũng sẽ bừng sáng khi nhân duyên hội đủ. Đạo Phật Việt Nam, kể từ thời dựng nước, độc lập và tự chủ, đã dung hội giác tính trong nhất thể dân tộc, trải qua những thăng trầm, vinh nhục của lịch sử, vẫn tự tin và đứng dậy từ những sụp đổ đau thương.
Thực hành thiền nó giúp đánh thức niềm tin của chúng ta, khôn ngoan và từ bi vốn cần và chúng ta sẵn có. Nó giúp để nhận biết chính mình: cái phần thô tháo và cái phần mềm mỏng của chính chúng ta, sự đam mề, sự gây hấn, cái vô minh và trí huệ của chính chúng ta.
Ngày nay đạo Phật truyền bá rộng rãi và phổ biến ở nước Nga. Tôi có kết bạn với một cô Phật tử người Nga, ban đầu cô ấy là một tín đồ chính thống giáo, nhưng sau khi đọc một ít tài liệu khái quát về Phật giáo và cô ấy đã thay đổi, theo lời cô ấy thì” Một sự hoan hỷ và truyền cảm như trỗi dậy từ trong tiềm thức”.
Tổ Tiên, Cha Mẹ là những người đã tạo nên “thân mạng” cho chúng ta; với công lao to tát hy sinh khổ cực trăm bề để nuôi dưỡng chúng ta lớn khôn nên người. Chúng ta phải lo đáp đền ân sâu nặng nầy mới trọn đạo làm người, lúc cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời. Chính Đức Phật cũng dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp, dù các con có báo hiếu bằng cách cắt thịt da dâng cho cha mẹ lúc cha mẹ đói khát cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
Nước Việt Nam đã bị người Pháp đô hộ khoảng một trăm năm. Gần trăm năm đô hộ tại Việt Nam người Pháp phải đương đầu với nhiều lực lượng kháng chiến chống thực dân không ngừng nghỉ. Truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt đã giục giả nhiều thanh niên thiếu nữ yêu nước đã lên đường. Một trong những nhà tranh đấu là ông Trần Hửu Duyên người may mắn được thân cận với Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Hân hạnh giới thiệu ông Trần Hửu Duyên với cuộc đời kháng chiến chống ngoại xâm, chống bạo lực và tranh đấu cho tự do dân chủ.
Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng, chính là cầu kiến Phật tánh, tánh giác của mình, cầu kiến bản tâm thanh tịnh của mình, cầu kiến để tiêu trừ vô minh phát sinh trí huệ, tăng trưởng từ bi, kiên cố bồ đề tâm. Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng không chỉ mỗi mặt lý hay đơn thuần mặt sự mà lý sự phải đi đôi thì mới không bị nghiêng lệch, phải lý sự viên dung thì mới thật sự là cầu kiến.
Đạo Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay. Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp môn: Bắc tông, Nam tông, nguyên thủy, mật tông. Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độ, kim cang thừa…
Pháp môn Tịnh độ còn được gọi là pháp môn niệm Phật do bản nguyện của Đức Phật A Di Đà mà thành. Chữ A Di Đà dịch âm từ chữ Phạn Amitābha, chữ Hán dịch là Vô lượng thọ và Vô lượng quang; nghĩa là tuổi sống lâu không số lượng kể, Ngài có hào quang tỏa sáng không lường...
Với lòng thành, với tu theo Quán thế Âm từ lâu khi còn ở Huế, cầu xin được hai ngày thì có báo ứng. Tự nhiên có 3 con cá voi, một con đi đầu dẫn đường còn hai con còn lại cập kẹp vô thuyền hai bên hông mạn thuyền mà bơi về hướng mà sau này biết là Hong kong. Ba con cá ông nầy bơi như vậy suốt 2 ngày 2 đêm thì sáng ra, thấy bờ đất liền là Hong kong thì đàn cá chia tay. Cả nhà sống được và đi Mỹ ở California đến ngày nay.
Chư Phật, chư Bồ Tát trong quá trình tu tập thường phát nguyện lớn. Những lời nguyện ấy giống như kim chỉ nam cho sự hành hoạt. Lời nguyện phát ra làm cho tín tâm tăng trưởng và kiên cố chí tu học. Những đaị nguyện ấy thể hiện cái năng lực, trí huệ và lòng đaị bi của chư Phật, chư Bồ Tát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.