Hôm nay,  

Bóng Rợp Trung Quốc

02/05/200700:00:00(Xem: 11933)

 ...phải xấu hổ khi tự xưng giành lại độc lập mà đất đai và phụ nữ con trẻ vẫn bán rẻ cho ngoại bang và lãnh đạo bỏ tù những ai muốn thay đổi xã hội...

Sau những sinh hoạt tưởng niệm biến cố 30 Tháng Tư của người Việt ở khắp mọi nơi,  kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa nêu ý kiến về tương lai qua cuộc trao đổi trên Diễn đàn Kinh tế  do Việt Long thực hiện sau đây. Rằng Việt Nam nên bước ra khỏi bóng rợp Trung Quốc.

- Hỏi: Hàng năm, cứ đến ngày 30 Tháng Tư, người Việt ở khắp nơi đều hồi tưởng lại ngày này vào năm 1975. Vào thời điểm ấy, ông còn ở tại Việt Nam và đã chứng kiến những thay đổi của đất nước. Hơn 30 năm sau, nếu cần rút tỉa những bài học của quá khứ như một cách tưởng niệm biến cố 30 Tháng Tư từ giác độ kinh tế, thì ông có những nhận xét gì"

- Biến cố 30 Tháng Tư đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh Việt Nam với sự thắng thế của một hình thái tổ chức xã hội thật ra vô cùng bất lợi cho người Việt Nam. Cũng vì vậy mà sau đó khủng hoảng xảy ra và những người lãnh đạo tại Hà Nội phải tiến hành công cuộc họ gọi là "đổi mới". Nếu có phải ngắn gọn tổng kết những bài học lợi hại kể từ biến cố ấy, tôi xin có một ý kiến mà thôi. Là Việt Nam cần bước ra khỏi bóng rợp Trung Quốc, nôm na là làm một cuộc cách mạng về tư duy để tìm ra con đường phát triển khác.

- Hỏi: Vì sao ông lại cho rằng Trung Quốc có ảnh hưởng đến biến cố 30 Tháng Tư và  nay Việt Nam cần thay đổi cách suy nghĩ để ra khỏi ảnh hưởng này, khi mà cả thế giới đang tin là hình thái phát triển của Trung Quốc dù sao cũng đem lại một số thành quả đáng kể"

- Về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với biến cố 30 Tháng Tư, tôi thiển nghĩ rằng các sử gia đều có nói tới rồi. Nôm na là nếu chủ nghĩa cộng sản không thắng thế tại Hoa Lục vào năm 1949 thì tình hình Việt Nam tất đã khác và trong suốt cuộc chiến dài nhất thế kỷ 20 mà Việt Nam đã hứng chịu thì vai trò yểm trợ của Trung Quốc cho miền Bắc cộng sản đã góp phần quyết định. Những chuyện khác chỉ là sự kiêu căng của phe thắng trận mà thôi!

Về những ảnh hưởng của Trung Quốc trong việc tái thiết Việt Nam sau chiến tranh thì các nhà nghiên cứu xã hội và chính trị cũng đều đã thấy. Lãnh đạo Việt Nam rập khuôn "cải tạo xã hội" theo mô thức Trung Quốc, cụ thể nhất là chế độ "hộ khẩu" để kiểm soát dân chúng và chế độ kinh tế tập trung kế hoạch khiến cho khủng hoảng đã xảy ra. Thế rồi 15 năm sau khi chiến thắng và cải tạo, Việt Nam cũng học lại cách "đổi mới" từ Trung Quốc và tiếp tục học cách phát triển từ phương Bắc khi Trung Quốc áp dụng lại mô thức Đại Hàn để công nghiệp hoá.

Nói chung, Việt Nam chưa ra khỏi một phản ứng truyền thống của văn hoá và chính trị là cứ học theo Trung Quốc, trong khi thế giới đã đổi thay về mọi mặt.

- Hỏi: Ông vừa nêu lên một nhận xét rất lạ, gọi là "phản ứng truyền thống và văn hoá của Việt Nam" là cứ học theo Trung Quốc, xin ông giải thích điều ấy cho rõ hơn.

- Thưa đây là câu chuyện ngàn năm, có lẽ phải nói hai ngàn năm mới đúng. Có thể, lịch sử Việt Nam đã trải hơn bốn ngàn năm thì nửa đầu là gì, chúng ta không còn biết rõ nữa. Nhưng phân nửa sau là hai ngàn năm được chia hai, thành một ngàn năm Bắc thuộc, từ 221 trước công nguyên đến năm 939, và một ngàn năm tự Hán hoá của các phần tử ưu tú hay lãnh đạo Việt Nam. Sau khi chiến thắng ngoại xâm từ phương Bắc, các bậc anh hùng dân tộc Việt Nam đều thiết lập chế độ cai trị và giáo dục học được cũng từ phương Bắc. Phản ứng văn hoá vừa sợ vừa mê một xứ láng giềng quá lớn quá mạnh khiến cho mãi tới gần đây người ta vẫn coi rằng không gian chỉ có hai chiều Nam-Bắc mà thôi.

- Hỏi: Ông có cho rằng vì mình là nước nhỏ nên có còn giải pháp nào khác đâu, và xin đề nghị ông đơn cử vài thí dụ về nhận xét đó của ông.

- Về đối sách ngoại giao, ta có thể áp dụng chiến lược mềm giẻo, nhưng về nội trị thì tại sao lại phải hoàn toàn học theo họ" Phản ứng bảo vệ sự khác biệt với Trung Quốc thì chỉ có ở quần chúng bình dân ở dưới, chứ ở trên thì các sĩ phu hay quan lại của ta hành xử chẳng khác gì Trung Hoa trên xứ mình. Nói về các thí dụ, thì xa có thể đọc lại Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo Vương, của một bậc anh hùng đã được dân ta tự động phong thánh. Mẫu mực ngài viện ra cho dân ta noi theo là các nhân vật anh hùng của phương Bắc. Gần hơn, Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo vẫn còn xem nhà Triệu là một dòng chính thống của Việt Nam, và cụ bị chết thảm vì cái chế độ hôn ám do chính mình góp phần dựng lên. Trong ba triều đại lớn của Việt Nam là Lý Trần, Lê, thì nhà Lê đã áp dụng mẫu mực Trung Quốc kỹ nhất, lâu nhất, "một cách hoàn chỉnh" như ta nói ngày nay. Và sự lụn bại của nước ta đã khởi sự từ đó.

- Hỏi: Nhưng thưa ông, triều Lê cũng có những nhân vật như Lê Thánh Tôn mà muôn đời sau vẫn coi là một vị minh quân với rất nhiều đóng góp văn học chứ"

- Thật ra, đấy là đỉnh cao trước khi lụn bại. Chúng ta hãy nghĩ lại mà xem. Trong thời đấu tranh giành độc lập, các vị sư Phật giáo đã có nhiều đóng góp đáng kể, thậm chí còn được tôn là Quốc sư như trong các đời Đinh, Lê, Lý. Nhưng rồi tầng lớp sĩ phu do hệ thống thi cử rập khuôn phương Bắc đào tạo ra đã lần lượt đẩy xa một thành phần ưu tú trong xã hội và chùa chiền trở thành một trung tâm giáo dục hay y tế miễn phí cho dân gian chứ việc triều chính vẫn do các quan quyết định theo mẫu mực Trung Quốc. Thậm chí nhiều người còn dèm pha đả kích Phật giáo trên quan điểm Khổng nho. Thời Lê Thánh Tông ông nói đó đánh dấu sự thống trị tuyệt đối của tư tưởng Trung Hoa và từ đấy chẳng cho phép tư tưởng nào khác xuất hiện. Thành thử, về ngoại giao ta có thể và nên mềm mỏng đối phó với Hán tộc, nhưng điều đáng nói là ta đã tự Hán hoá ngay trong nội trị và giáo dục.  

Gần ta hơn, một người ai cũng tưởng là có tinh thần cách mạng hay nổi loạn là Cao Bá Quát, trong nhiều bài biểu dâng vua, vẫn còn ca tụng Thánh hiền phương Bắc, thậm chí tỏ vẻ xót xa như một sĩ phu Trung Hoa, rằng nền văn hoá ấy đang bị Tây dương tấn công. Nôm na, ta học được của Trung Quốc tinh thần háo danh, duy chủng, kỳ thị sắc tộc, mê tín, và mặc nhiên chấp nhận thậm chí còn đề cao sự chuyên chế về tư tưởng và chính trị.

- Hỏi: Thưa ông, đó là chuyện xưa, chứ qua thế kỷ 20 thì tình hình có khác chăng"

- Cũng không khác! Sau khi đã áp dụng mọi chủ trương Maoít của Trung Quốc để cải tạo từ nông nghiệp tới kinh tế, văn học và gây bao thảm họa cho người Việt, lãnh đạo Hà Nội huy động toàn dân đánh Mỹ cho quyền lợi Trung Quốc. Hình tượng Hồ Chí Minh được dựng lên làm nhân cách Việt Nam lớn nhất thì cũng dưới dáng vẻ một nhà nho! Khi khủng hoảng xảy ra thì vẫn học từ bài bản cải cách Trung Quốc, với màu sắc Trung Hoa được gọi là định hướng "xã hội chủ nghĩa", và không dám làm điều gì mới nếu chưa thấy Trung Quốc thực hiện. Điều chưa thấy là mẫu mực Trung Quốc thực ra không đáng noi.

- Hỏi: Đi vào phần cụ thể của kinh tế và sự phê phán của mẫu mực Trung Quốc, ông có những nhận xét gì"

- Marx cho rằng kinh tế là yếu tố quyết định. Là một người duy tâm, tôi tin rằng văn hoá là yếu tố quyết định sâu xa hơn cho kinh tế, vì vậy, dù có theo tư bản chủ nghĩa về kinh tế, các nước theo kinh tế tự do đều có sự khác biệt như ta đã thấy tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Đức, Anh, Pháp v.v... Vì vậy, nếu nói về mô thức phát triển kinh tế lâu dài cho cả xã hội, ta không thể loại bỏ yếu tố văn hoá, là cách suy tư và hành động tự phát, thậm chí bất thành văn, của cả một tập thể. Đấy là lý do khiến tôi coi bài học chính yếu từ biến cố 30 Tháng Tư là nếp tư duy rập khuôn Trung Quốc từ xa xưa cho đến gần đây mà khỏi cần có quan thái thú hay chính ủy do Bắc Kinh phái qua cai trị hay dạy dỗ.

- Hỏi: Ông cho rằng mẫu mực Trung Quốc không đáng noi ở những điểm gì"

- Trước hết, lãnh đạo Trung Quốc vẫn áp dụng thuật trị nước kiểu Trung Hoa truyền thống, là "trong bá ngoài vương", nôm na là nói một đằng làm một nẻo. Bên trong là chuyên chế và thủ đoạn, bên ngoài là đạo đức cách mạng hay xã hội chủ nghĩa. Hậu quả cụ thể là bất công xã hội được định chế hoá. Không phải ngẫu nhiên mà trong các quốc gia đang theo kinh tế thị trường, Trung Quốc và Việt Nam là hai xứ có bất công xã hội hay dị biệt giàu nghèo thuộc mức cao nhất, với môi sinh bị hủy hoại nặng nhất mà nhà nước vẫn vô can.

Sau đó là tham nhũng đã trở thành một thuộc tính của chế độ, được đặt lên bệ và nằm ngoài khả năng phán xét của quần chúng. Biểu hiện kinh tế của nó là quy chế doanh nghiệp nhà nước lẫn mô thức cổ phần hoá các cơ sở này để một thiểu số thu lợi bất chính, hoặc là chính sách và luật lệ liên quan tới đất đai và quyền sử dụng đất. Ngoài cùng và trên cùng là hàng loạt vấn đề mà mọi người Việt ngày nay đều đang thấy, từ chuyện bóp nghẹt tôn giáo đến đàn áp dân chủ và không cho người dân một khả năng tư duy nào khác ngoài việc cúi đầu tìm bát cơm. Nguy hại nhất cho công cuộc phát triển về dài chính là tư tưởng bị đóng khuôn và cái gọi là ưu điểm của nếp văn hoá Trung Quốc là tính thực tiễn về kinh tế thật ra đang đưa người dân tới chốn tệ hại là trở thành một sinh vật thuần túy kinh tế. Chẳng có gì là đáng hãnh diện hay đáng mừng cả!

- Hỏi: Dù sao thế giới cũng đã thấy và không phủ nhận được những thành quả cải cách của Trung Quốc từ gần ba chục năm nay chứ, ông nghĩ sao"

- Có một quy luật kinh tế mà ít ai nói tới, đó là "cái được thì dễ thấy, mà cái mất lại khó nhìn!" Trung Quốc đã để mất và thực tế là giết mấy chục triệu dân vì giấc mơ cách mạng điên cuồng của Mao, sự việc đó người ta không nói đến, y như ở tại Việt Nam với vụ cải cách ruộng đất và đàn áp văn nghệ sĩ rập khuôn họ Mao. Ba mươi năm sau khi ra khỏi giấc mơ đó thì Trung Quốc vẫn có một tỷ dân, một ngàn triệu người, thuộc loại nghèo đói và chỉ biết mở miệng kiếm ăn mà không có quyền nói, cho tới khi hàng vạn dân bất mãn phải biểu tình thì nhà nước tắt đèn truyền thông, không cho tường thuật việc đàn áp!

Bắc Kinh tự hào với Thế vận hội, và cẩn thận chọn ngày tám Tháng Tám năm 2008 theo kiểu mê tín truyền thống với ba số tám để biểu dương khí thế Trung Hoa. Muốn hoàn tất mỹ mãn sinh hoạt tuyên truyền quảng cáo này thì họ phải chặt chẽ kiểm soát dân chúng để khỏi có biểu tình đấu tranh gì! Việc họ đang sửa lại chế độ hộ khẩu cho mấy chục triệu lao động từ thôn quê về thành thị kiếm sống cũng cho thấy những bất toàn của mẫu mực Trung Quốc. Thế giới có thể bị mê hoặc bởi những thành tựu bề mặt của Trung Quốc chứ Việt Nam thì không nên vì là một lân bang của họ và có khi bị họa lây.

- Hỏi: Chúng ta đang đi vào phần kết của cuộc trao đổi kỳ này. Thưa ông, nếu không nên theo mẫu mực Trung Quốc thì Việt Nam nên làm gì, học ai"

- Mô thức phát triển của Đại Hàn mà lãnh đạo Việt Nam đang học ngày nay thật ra cũng chỉ là một ấn bản Trung Hoa trong thời công nghiệp, với một thiểu số ưu tú có chức năng mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân mà thực tế vẫn là tập trung quyền lợi và quyền lực. Hệ thống chaebols Hàn Quốc đã sụp đổ từ 1997 mà Bắc Kinh và Hà Nội vẫn cố vớt vát cũng vì quyền hành cho một thiểu số. Qua thế kỷ 21 và thời toàn cầu hóa, lối tổ chức sản xuất ấy không còn có lợi cho đa số nữa mà lãnh đạo Việt Nam chưa nhìn ra hay chưa đồng ý.

Còn hỏi rằng mình nên học ai, tôi thiển nghĩ rằng đầu tiên, mình phải có khả năng suy tư độc lập và lãnh đạo phải chú ý nhiều hơn đến đa số. Như hiện nay thì túi tiền của họ vẫn gửi qua Mỹ còn cái đầu vẫn hướng về Bắc Kinh theo kiểu "trong bá ngoài vương" thì tầm suy tư học hỏi tất nhiên vẫn bị thu hẹp, chưa nói gì đến khả năng bảo vệ nền độc lập.

- Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, nếu như muốn bước ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc thì liệu Việt Nam có nên học mô thức của Hoa Kỳ không" Nhiều người Việt trong nước bây giờ đang theo dõi rất sát và có khi áp dụng khá phổ biến một số sinh hoạt kiểu Mỹ. Thậm chí nhân biến cố 30 Tháng Tư, truyền thông quốc tế nói nhiều đến việc Việt Nam thắng Mỹ rồi lại học theo Mỹ! Điều ấy có lợi hay hại" 

- Tôi lại xin nghịch ngợm nêu một câu hỏi ngược của kinh tế học, là "lợi cho ai mà hại cho ai"" Thật ra, dân tộc nào cũng phải tự tìm ra mô thức thích hợp với nếp văn hoá của mình và tiệm tiến đổi thay nếp văn hoá ấy căn cứ trên những thách đố của thực tế. Việt Nam không thể và không nên bắt chước Hoa Kỳ và nhất là bắt chước ở ngọn. Cái gốc là tinh thần cởi mở và đa nguyên của Mỹ thì lại chưa có và chưa có quyền hiện hữu tại Việt Nam.

Các phần tử ưu tú của Việt Nam, ở trong và ngoài đảng, cần nhìn ra vấn đề và tìm lấy giải pháp thích hợp cho cả xã hội trong một môi trường chưa từng có suốt mấy ngàn năm lịch sử của Việt Nam là thông tin lập tức của một thế giới toàn cầu hoá. Chúng ta phải bước ra khỏi không gian hai chiều Nam-Bắc, Hà Nội và Bắc Kinh, để tìm ra đường khác. Và trước tiên phải biết xấu hổ khi Việt Nam tự xưng là giành lại độc lập mà đất đai và phụ nữ con trẻ vẫn là những sản phẩm bán rẻ cho ngoại bang trong khi lãnh đạo lại bỏ tù những ai muốn xã hội phải thay đổi. Đấy là cái nhìn của tôi về 30 tháng Tư.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.