Hôm nay,  

Mười Năm Của Putin

12/08/200900:00:00(Xem: 12169)

Mười Năm của Putin
Nguyễn Xuân Nghĩa

Khi Trùm Cớm thành Ông Trùm...
Tuần qua, ngày sinh nhật của Tổng thống Barack Obama - sinh nhật đầu tiên trong Phủ Tổng thống của một tổng thống gốc da đen đầu tiên của Mỹ - có tiếng vang của cái pháo tẹt. Chuyện không có gì mà ầm ĩ, dù truyền thông Mỹ có ra sức thổi ống đu đủ lên tới trời xanh.
Một ngày kỷ niệm khác mới đáng ghi nhớ, vì làm thay đổi cục diện thế giới.
Mùng tám Tháng Tám, Liên bang Nga mở cuộc tấn công vào hai khu vực tự xưng là ly khai của Georgia. Kể từ ngày đó, một năm đã qua rồi mà Georgia vẫn như cá nằm trên thớt, và có thể sẽ bị xẻo thịt một đợt nữa trong những ngày tới! Công trình sư của biến cố ấy là Thủ tướng Vladimir Putin. Tuần này, ông lặng lẽ kỷ niệm một biến cố khác...
Mười năm về trước, ngày chín Tháng Tám, Vladimir Putin được Tổng thống Boris Yeltsin bổ nhiệm làm một trong ba Đệ nhất Phó Thủ tướng (!) của Nội các Sergei Stepashin. Cùng ngày đó, Thủ tướng Stepashin bị Yeltsin cách chức - chủ yếu vì thiếu nhiệt tình trong cuộc chiến tại Chechnya - Putin lên xử lý thường vụ. Lập tức Yeltsin tuyên bố sẽ chọn Putin làm người kế vị. Đến cuối ngày, Putin tuyên bố sẽ ra tranh cử Tổng thống....
Ngần ấy diễn biến dồn dập nội trong một ngày đã có âm hưởng của một cuộc đảo chánh của phe an ninh và quân đội sau khi Liên bang Nga có năm Thủ tướng trong 18 tháng. Từ mùng chín Tháng Tám năm 1999, nước Nga bước qua ngả khác. Vì thế mới có vụ tấn công Georgia vào năm ngoái.
Chúng ta nên nhìn lại chuyện này, một biến cố có ý nghĩa và rất đáng suy ngẫm....
***
Trong 10 năm liền sau 1989, cả thế giới và nhất là các nước Tây phương cứ mong là sau khi khối Xô viết khủng hoảng rồi tan rã, Liên bang Nga sẽ tiến dần ra chế độ dân chủ và cải cách theo kinh tế thị trường. Là chính khách có bản lãnh, Boris Yeltsin lại không thực hiện nổi việc đó.
Di sản đáng nói nhất của ông không phải là đã cải tổ kinh tế cho một số tài phiệt có cơ hội chia chác tài sản quốc gia mà là nhìn ra chân tướng của Vladimir Putin. Khi dọn đường cho Putin, ông Yeltsin được rút lui êm thắm, để ra đi nhẹ nhàng trong vòng tay của Lưu Linh.
Kể từ đấy, Putin đưa nước Nga về chốn cũ... Còn chuyện dân chủ thì vẫn là giấc mơ.
Vì sao như vậy" Nhiều lý do lắm! Ít ra là ba chuyện.
Vì Liên bang Nga là một lục địa bát ngát, có diện tích rộng gấp đôi lãnh thổ Hoa Kỳ, trải ngang 11 múi giờ trên địa cầu. Nhưng là một lục địa không may. Sự nghèo khổ của Nga là cái nghiệp vì địa dư hình thể không thuận lợi cho canh tác và chuyển vận như trường hợp may mắn của Âu Châu và Hoa Kỳ, hoặc miền Đông của Trung Quốc. Con sông lớn duy nhất của Nga có thể đẩy giang thuyền và hàng hóa từ nơi này qua nơi khác thì chỉ đẹp trong thi ca. Đó là sông Volga, thường bị đóng băng vì lạnh, lại chảy vào biển Caspian bị tù trong lục địa và có vị trí kinh tế thương mại rất thấp.
Nước Nga chỉ có thể tồn tại khi con người bước vào việc khai sông xẻ núi.
Con người ở đây là triều đình, là Bộ Chính trị hay Chính quyền. Tải sản của quốc gia vì vậy được đầu tư vào chuyển vận, nếu không thì dân đói và nổi loạn - là chuyện đã từng xảy ra. Và ngoài Moscow, những trung tâm thị tứ lớn của Nga thường do con người xây dựng trên các trục giao lưu nhân tạo.
Với địa hình địa vật ấy, việc kỹ nghệ hoá để canh tân xứ sở là bài toán mà Hoa Kỳ và Âu Châu không gặp nên khó mường tượng ra.
Việc sản xuất lương thực để đưa tới từng nhà cho xứ sở khỏi loạn là yếu tố tự nhiên dẫn tới nạn trưng thu và bóc lột nông dân - từ khi chủ nghĩa cộng sản chưa xuất hiện. Khi chủ nghĩa này được áp dụng tại Nga thì nó... vận hành đúng quy luật nhờ điều kiện thiên nhiên ấy. Và nhờ vậy mà có góp phần công nghiệp hoá nước Nga - bằng núi xương sông máu. Đó là thành tích của Stalin.
Nhiều người lý tưởng có thể khó chịu khi thấy nói rằng địa dư hình thể Nga là yếu tố giải thích chế độ tập trung quản lý và độc tài sắt máu. Nghĩa là hàm ý xá tội cho bạo chúa. Thực tế là con người vẫn bị chi phối bởi điều kiện thiên nhiên và 10 năm thử nghiệm dân chủ của Yeltsin có phần nào cho thấy sự thật đó. Nước Đức có thể đã rơi vào chế độ độc tài khát máu, của cả chủ nghĩa phát xít lẫn cộng sản, mà vẫn thoát ra được.
Nga thì không.
***
Cộng đồng dân tộc nào cũng muốn được tồn tại với bản sắc của mình và phải nương vào thiên nhiên để phòng thủ, tự vệ. Sống trên các vùng đất trống trải không có núi rừng bảo vệ hay sông nước để phòng ngự và chuyển quân thì rất dễ bị ngoại xâm và bị đồng hoá, rồi tiêu vong. Dân ta có thể hiểu điều ấy từ khi còn sinh sống tại lưu vực sông Cả, sông Mã và nương vào hang động ở cuối rặng Trường Sơn để mình vẫn là mình.
Nước Nga không được như vậy.


Xứ sở này không có biên giới thiên nhiên - như "hải đảo" Hoa Kỳ hay "lục địa" Trung Quốc, được đại dương hay núi rừng bảo vệ - mà là vùng đất trống trải. Ba rặng núi lớn nhất, từ Tây qua Đông là vùng Carphatian, Caucasus rồi rặng Thiên Sơn (tại Trung Á) là ba tấm bình phong quá hẹp. Ngoài ra, chỉ có đầm lầy bên Tây Bá Lợi Á.
Còn lại là một sự trống trải vô bờ. Vì vậy, dân Nga không thể quên được các đợt tấn công của Mông Cổ, của Napoléon hay Đức Quốc xã trong lịch sử.
Ngoài chuyện địa dư hình thể đã dẫn tới chế độ kinh tế tập trung thì nhu cầu an ninh cũng khiến Nga luôn luôn nghĩ tới việc thiết lập các vùng trái độn quân sự và trưng binh đồn trú khấp nơi. Không quốc gia nào trên thế giới lại phải tốn kém như xứ này để nuôi một đạo quân lớn lao như vậy. Và chính quyền trung ương - hay Bộ Chính trị thời Xô viết - càng củng cố vùng trái độ thì quốc gia càng kiệt quệ.
Mà trong các vùng trái độn ấy, sắc tộc Nga la tư phải chung sống với nhiều sắc dân khác. Ta bước qua chuyện khác: Làm sao chung sống trong thế mạnh nếu không đàn áp, tiêu diệt hay khuynh đảo các sắc dân này"
Từ thời Stalin rồi, nhiều cộng đồng thiểu số bị bứng gốc và đầy qua nơi khác sinh sống trong khi dân Nga được đưa về làm chủ nhiều khu vực của vùng phiên trấn, từ biển Baltic phía Bắc đến Trung Âu hay Trung Á phía Nam. Trong những vùng trái độn có đặc tính xôi đậu ấy, an ninh và tình báo trở thành yêu cầu tất yếu. Hệ thống mật vụ được định chế hoá, với bàn tay cực kỳ thô bạo, để dẹp yên mọi mầm loạn, về cả chủng tộc lẫn ý thức hệ.
Nhân đây, cần nhắc lại rằng bốn chục năm về trước, hai đại trí thức Nga là Andrei Sakharov và Aleksandr Solzhenitsyn đã gián tiếp tranh luận về bài toán ấy. Nhà vật lý Sakharov thì cho rằng ý thức hệ Cộng sản là nguyên nhân của mọi tai họa và nếu từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, nước Nga sẽ có một tương lai khá hơn. Văn hào Solzhenitsyn suy luận hơi khác vì nhìn thấy thuộc tính độc tài trong văn hoá Nga. Ông muốn tìm giải pháp cứu rỗi sâu xa hơn ý thức hệ, trong tôn giáo và tư tưởng văn hoá. Cả hai đều có lý, nhưng có lẽ con người nhân văn Solzhenitsyn bắt được cái thần của nền văn hoá chuyên chế đó.
Và cả hai đều là nạn nhân của một thuộc tính khác, là chế độ mật vụ.
Chế độ mật vụ này đã hiện hữu từ thời các Sa hoàng và được hệ thống hoá trong thời cộng sản - cho đến ngày nay... Chính là hệ thống quản lý tập trung, phòng ngự quân sự và cai trị bằng mật vụ mới đưa tới hiện tượng đặc thù của xứ này: lãnh đạo Nga cần mật vụ và tự đồng hóa với mật vụ, dưới rất nhiều tên gọi khác nhau. Nổi tiếng nhất là KGB.
Trẻ trung nhất trong thế giới đó có Vladimir Putin, người lọt mắt xanh của Boris Yeltsin.
***
Mười năm về trước, khi Putin được đưa lên làm Thủ tướng thứ sáu của Liên bang Nga trong có một năm rưỡi, ít ai tin là ông sẽ tồn tại quá một con trăng. Huống hồ lên làm Tổng thống, Vậy mà Putin đã đắc cử, làm Tổng thống hai nhiệm kỳ và gồm thâu thiên hạ về một mối để giành lại thế lực đã mất của nước Nga. Ông có trình độ nghiệp vụ thích hợp cho nhu cầu của tình thế!
Putin không thuộc loại tài phiệt, chuyên gia hay chính khách thư lại của chế độ cũ mà là một người yêu nước... theo kiểu mật vụ. Ông nắm vững thông tin và kỹ thuật tổ chức để hiện đại hoá hệ thống bảo vệ bằng công an và tập trung quyền lực thiết yếu vào điện Kremlin. Kinh tài, tuyên truyền hay an ninh, quân đội, v.v... ngần ấy cơ chế đều có chức năng ưu tiên là xây dựng sức mạnh cho chế độ đã.
Vì vậy, trong 10 năm liềm, Vladimir Putin đã làm nước Nga thay đổi, ổn định hơn thời Yeltsin, mà hà khắc và lưu manh hơn. Với hệ thống cai trị ấy, thế lực kinh tế của Nga không thể thay đổi và xứ này vẫn là một quốc gia chậm tiến. Nhưng khả năng bảo vệ chế độ và gây hấn với bên ngoài thì đã khác xưa.
Khi Phó Tổng thống Joe Biden của Hoa Kỳ lên giọng khinh miệt sức mạnh kinh tế  Liên bang Nga, ông nói đúng mà nghĩ sai vì chỉ nhìn thấy một phần của vấn đề. Nhờ hệ thống mật vụ của nó, chế độ này có thể tồn tại lâu hơn và gây họa nhiều hơn. Trong một quốc gia mà các phần tử ưu tú lại tập trung vào việc bảo vệ an ninh thì xã hội không tiến được và người dân sẽ còn khổ. Nhưng đấy là vấn đề của dân tộc Nga. Vấn đề của thế giới là sự tồn tại của Putin và những người sẽ kế tục sự nghiệp của ông ta: họ suy nghĩ và hành xử như Trùm Cớm, theo những quy luật khác.
Mười năm sau khi ngôi sao Putin xuất hiện, và nay vẫn còn sáng, mình cũng nên nhìn vào góc tối đó của nước Nga.... Khi ấy, may ra thì ta hiểu được võ công của Kim Chính Nhật tại Bắc Hàn và màn biểu diễn của nguyên Tổng thống Bill Clinton khi ông "vận động" để đón về hai nhà báo Mỹ gốc Á bị mật vụ Bắc Hàn bắt giữ - rồi ân xá đúng lúc! Tào lao! 

 

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.