Hôm nay,  

Ngày Con Tàu Cặp Đảo

21/08/201800:00:00(Xem: 4500)
Thành Lacey

               
-  Để nhớ lại ngày đến tỵ nạn Galang và những người cùng trên chuyến tàu vượt biển danh số : SG 129.

Làm sao tôi quên được ngày đó.  Ngày mà ướ mơ của ba má tôi và tôi trở thành sự thật, sau bao nhiêu hy sinh, bao năm tù tội khổ sai, kể cả  đánh liều mạng sống để đến được bờ bến Tự Do.

Sáng hôm đó, một ngày thật đẹp trời của đầu năm tám chín, chiếc thuyền vượt biển chở một trăm hai chín người lớn và trẻ em, phát xuất đi từ cữa Bình Đại, Sàigòn, sau ba đêm, bốn ngày đã vào được hải phận trong một quần đảo thuộc Indonesia.   Nhờ tài hải hành lão luyện của hai cựu sĩ quan hải quân Cộng Hoà làm hoa tiêu nên tàu đã đi đến đúng mục tiêu.

Ôi, cảm đội Ơn Trên, tàu đã tới đảo

Bao nhiêu ngục tù, khổ ải bỏ hết lại sau

Thấy trước mặt là một chân trời tươi sáng

  Tới bửa sáng hôm sau, sau một đêm đậu ngòai hải phận Singapore, tàu chạy vào lảnh hải xứ Nam Dương.  Mục đích của chủ ghe là chạy vào trại Galang để xin tỵ nạn.  Xin  được nói thêm là vào thời điểm này, đã có quyết định của Cao Uỹ Tỵ Nạn là đóng cữa các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á không nhận ghe vượt biển vào nữa ...  Khi tàu len vào nhóm đảo thì hoa tiêu không tìm ra được vị trí của trại Galang trên bản đồ nữa.  Mọi người trên ghe như chết đi sống lại, vui mừng vô kể, nhứt là tôi.  Sau  nhiều lần vượt biển, sống một cuộc đời vô vọng, sáng nay là ngày thật là hồi  sinh  của tôi. Trong lòng  tôi thầm cảm tạ Bề Trên đã cho tôi có được ngày này.

Vì  không  tìm ra  được vị trí của trại Galang nên mọi người đâm ra nôn nóng, hoang mang.  May sao hoa tiêu thấy một chiếc thuyền tam bản hiện ra ở phái trước liền hướng tàu chạy về phía đó.  Đến nơi thì thấy một người đàn ông hình như đang đánh cá.  Taù chạy thật chậm, áp sát vào, hoa tiêu hỏi bằng tiếng Anh:

-  Anh ơi!  Trại Galang ở đâu?

Người đàn ông rõ ràng là không hiểu tiếng Anh.  Hoa tiêu hỏi to  nữa:

- Galang! Galang! Ở đâu?

  Lần này anh ta lấy tay chỉ vào hướng vùng biển ở phía trong.

Chủ ghe nói lời cảm ơn và cho anh ta một chiếc radio  trăng-zít-to cở nhỏ rồi nói hoa tiêu chạy theo hướng đó.   Chạy một hồi lâu thì tôi thấy có người lố nhố ở hai bên bờ chỉ chỏ vào chiếc tàu, còn trẻ con thì chạy dọc theo tàu trên bờ.  Mọi người trên tàu đều đồng ý cho tàu tấp vào bờ, trong lòng ai cũng mừng rở vì thấy có  người trên đảo.  Ghe cập vào thì có mấy thanh niên người Indo nhảy qua tàu hỏi thăm và hỏi dọ mua bán đổi chác với người trên tàu.  Tôi được lên bờ và nhận vài tờ bạc lẽ tiền đô  của một vài người trên tàu nhờ gởi mua vài lon Coca hay ít kẹo bánh ăn cho đở thèm. Kế đó thấy có mấy người mặc đồ nhà binh đến hỏi chuyện,  ghi ghi chép chép,  và sau đó nói sẽ chở chúng tôi về đơn vị để trình lên thượng cấp của họ quyết định.  Khi mấy chiếc xe nhà binh tới chở chúng tôi tới một đồn binh để làm lý lịch thì trời đã xế chiều.  Sáng hôm sau chúng tôi được xe nhà binh chở vào trại tỵ nạn Galang.

Cổng trại Galang chào đón người may mắn

Sau những gian lao giờ mới thấy bỏ công

Khi xe đến cổng trại và đổ chúng tôi xuống thì đã có người đại diện người tỵ nạn trại Galang , nhân viên công lực Indo  và một số đồng  bào đang  chờ đón.   Sau mốt lúc lâu làm thủ tục và nghe anh đại diện nói sơ qua về sinh họat trong trại, chúng tôi được xe chở vào Khu Kiểm Dịch Quarantine thuộc Galang 2.  Khu Kiểm Dịch là nơi các thuyền nhân mới tới đảo phải chịu cô lập để chích ngừa và là các thủ tục y tế.   Ở thời điểm của năm tám chín này thì Khu đã bị bỏ trống hoang tàn và không còn nhân viên y tế phục vụ nữa.  Các dãy barracks trống trơn được chia thành từng phòng bao quanh bởi hàng rào cao bằng tôn và chỉ có môt cổng duy nhứt ra vào.  Dầu lửa và thực phẩm được bên ngoàt chở vào cung cấp mỗi tuần.  Nội bất xuất, ngoại bất nhập như vậy cho đến gần hai tháng sau chúng tôi mới được cho ra sống bên ngoài.

Dù vậy, đối với tôi chỉ cần lên được tới đảo và vào trại tỵ nạn là qúa đủ mừng vui rồi.  Có một buổi sáng sớm tôi leo rào ra để thám hiểm bên ngoài.  Trước mặt tôi là một vùng đồi cỏ cây đầy vẻ hoang dại đang ngập mình trong sương mù buổi sáng, thật là như cảnh thần tiên.

Tính từ ngày con tàu vượt biển cặp đảo cho đền nay đã trên dưới hai mươi chín năm rồi nhưng hình ảnh buổi sáng con tàu vào được vùng đảo Indo còn rõ ràng, sống động trong ký ức của tôi và sẽ không bao giờ phai mờ cho đến lúc tôi không còn thở nữa.                                                                                                   

ttt,  July 2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.