Hôm nay,  

Ngày Con Tàu Cặp Đảo

21/08/201800:00:00(Xem: 4647)
Thành Lacey

               
-  Để nhớ lại ngày đến tỵ nạn Galang và những người cùng trên chuyến tàu vượt biển danh số : SG 129.

Làm sao tôi quên được ngày đó.  Ngày mà ướ mơ của ba má tôi và tôi trở thành sự thật, sau bao nhiêu hy sinh, bao năm tù tội khổ sai, kể cả  đánh liều mạng sống để đến được bờ bến Tự Do.

Sáng hôm đó, một ngày thật đẹp trời của đầu năm tám chín, chiếc thuyền vượt biển chở một trăm hai chín người lớn và trẻ em, phát xuất đi từ cữa Bình Đại, Sàigòn, sau ba đêm, bốn ngày đã vào được hải phận trong một quần đảo thuộc Indonesia.   Nhờ tài hải hành lão luyện của hai cựu sĩ quan hải quân Cộng Hoà làm hoa tiêu nên tàu đã đi đến đúng mục tiêu.

Ôi, cảm đội Ơn Trên, tàu đã tới đảo

Bao nhiêu ngục tù, khổ ải bỏ hết lại sau

Thấy trước mặt là một chân trời tươi sáng

  Tới bửa sáng hôm sau, sau một đêm đậu ngòai hải phận Singapore, tàu chạy vào lảnh hải xứ Nam Dương.  Mục đích của chủ ghe là chạy vào trại Galang để xin tỵ nạn.  Xin  được nói thêm là vào thời điểm này, đã có quyết định của Cao Uỹ Tỵ Nạn là đóng cữa các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á không nhận ghe vượt biển vào nữa ...  Khi tàu len vào nhóm đảo thì hoa tiêu không tìm ra được vị trí của trại Galang trên bản đồ nữa.  Mọi người trên ghe như chết đi sống lại, vui mừng vô kể, nhứt là tôi.  Sau  nhiều lần vượt biển, sống một cuộc đời vô vọng, sáng nay là ngày thật là hồi  sinh  của tôi. Trong lòng  tôi thầm cảm tạ Bề Trên đã cho tôi có được ngày này.

Vì  không  tìm ra  được vị trí của trại Galang nên mọi người đâm ra nôn nóng, hoang mang.  May sao hoa tiêu thấy một chiếc thuyền tam bản hiện ra ở phái trước liền hướng tàu chạy về phía đó.  Đến nơi thì thấy một người đàn ông hình như đang đánh cá.  Taù chạy thật chậm, áp sát vào, hoa tiêu hỏi bằng tiếng Anh:

-  Anh ơi!  Trại Galang ở đâu?

Người đàn ông rõ ràng là không hiểu tiếng Anh.  Hoa tiêu hỏi to  nữa:

- Galang! Galang! Ở đâu?

  Lần này anh ta lấy tay chỉ vào hướng vùng biển ở phía trong.

Chủ ghe nói lời cảm ơn và cho anh ta một chiếc radio  trăng-zít-to cở nhỏ rồi nói hoa tiêu chạy theo hướng đó.   Chạy một hồi lâu thì tôi thấy có người lố nhố ở hai bên bờ chỉ chỏ vào chiếc tàu, còn trẻ con thì chạy dọc theo tàu trên bờ.  Mọi người trên tàu đều đồng ý cho tàu tấp vào bờ, trong lòng ai cũng mừng rở vì thấy có  người trên đảo.  Ghe cập vào thì có mấy thanh niên người Indo nhảy qua tàu hỏi thăm và hỏi dọ mua bán đổi chác với người trên tàu.  Tôi được lên bờ và nhận vài tờ bạc lẽ tiền đô  của một vài người trên tàu nhờ gởi mua vài lon Coca hay ít kẹo bánh ăn cho đở thèm. Kế đó thấy có mấy người mặc đồ nhà binh đến hỏi chuyện,  ghi ghi chép chép,  và sau đó nói sẽ chở chúng tôi về đơn vị để trình lên thượng cấp của họ quyết định.  Khi mấy chiếc xe nhà binh tới chở chúng tôi tới một đồn binh để làm lý lịch thì trời đã xế chiều.  Sáng hôm sau chúng tôi được xe nhà binh chở vào trại tỵ nạn Galang.

Cổng trại Galang chào đón người may mắn

Sau những gian lao giờ mới thấy bỏ công

Khi xe đến cổng trại và đổ chúng tôi xuống thì đã có người đại diện người tỵ nạn trại Galang , nhân viên công lực Indo  và một số đồng  bào đang  chờ đón.   Sau mốt lúc lâu làm thủ tục và nghe anh đại diện nói sơ qua về sinh họat trong trại, chúng tôi được xe chở vào Khu Kiểm Dịch Quarantine thuộc Galang 2.  Khu Kiểm Dịch là nơi các thuyền nhân mới tới đảo phải chịu cô lập để chích ngừa và là các thủ tục y tế.   Ở thời điểm của năm tám chín này thì Khu đã bị bỏ trống hoang tàn và không còn nhân viên y tế phục vụ nữa.  Các dãy barracks trống trơn được chia thành từng phòng bao quanh bởi hàng rào cao bằng tôn và chỉ có môt cổng duy nhứt ra vào.  Dầu lửa và thực phẩm được bên ngoàt chở vào cung cấp mỗi tuần.  Nội bất xuất, ngoại bất nhập như vậy cho đến gần hai tháng sau chúng tôi mới được cho ra sống bên ngoài.

Dù vậy, đối với tôi chỉ cần lên được tới đảo và vào trại tỵ nạn là qúa đủ mừng vui rồi.  Có một buổi sáng sớm tôi leo rào ra để thám hiểm bên ngoài.  Trước mặt tôi là một vùng đồi cỏ cây đầy vẻ hoang dại đang ngập mình trong sương mù buổi sáng, thật là như cảnh thần tiên.

Tính từ ngày con tàu vượt biển cặp đảo cho đền nay đã trên dưới hai mươi chín năm rồi nhưng hình ảnh buổi sáng con tàu vào được vùng đảo Indo còn rõ ràng, sống động trong ký ức của tôi và sẽ không bao giờ phai mờ cho đến lúc tôi không còn thở nữa.                                                                                                   

ttt,  July 2018

 

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.