Hôm nay,  

Chánh Pháp Số 106, Tháng 09.2020

02/09/202008:57:00(Xem: 3086)

biachanhphap106
Hình bìa của Amateurs (Pixabay.com)

NỘI DUNG SỐ NÀY:

¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2

¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3

¨ THÔNG BẠCH VU LAN PL. 2564 (Hội Đồng Giáo Phẩm GHPGVNTNHK), trang 8

¨ BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9

¨ CẢM NIỆM VU LAN (thơ Tâm Tấn), trang 11

¨ LUẬN VỀ CÁI CHẾT NGUYÊN CON (ĐNT Tín Nghĩa), trang 12

¨ MÂY TRẮNG (thơ Nguyễn Đức Sơn), trang 15

¨ HÌNH TƯỢNG CHA MẸ TRONG KINH DUY MA CẬT (Chân Hiền Tâm), trang 16

¨ CÚNG DƯỜNG CHA MẸ (Quảng Tánh), trang 19

¨ TU HẠNH LẮNG NGHE (TN Hằng Như), trang 20

¨ MÙA ĐẠI DỊCH: HỘ TRÌ SÁU PHƯƠNG (Nguyên Giác), trang 24

¨ BĂN KHOĂN HIẾU NGHĨA VẸN TOÀN (thơ Thích Viên Thành), trang 26

¨ TIẾNG VÕNG ĐƯA, GIỌT NẮNG THIÊN THU (thơ Hồ Thanh Nhã), trang 29

¨ ULLAMBANA – Phật Pháp Thứ Năm (Nhóm Áo Lam), trang 30

¨ KHÔNG KỲ THỊ TÔN GIÁO – Câu Chuyện Dưới Cờ (Thị Nguyên Nguyễn Đình Khôi), trang 32

¨ XÂY DỰNG LẠI CÁC CƠ SỞ HÀNH ĐẠO, VNPG Sử Luận, Chương 31 (Nguyễn Lang), trang 33

¨ MÙA VU LAN TƯƠI (thơ Vĩnh Hữu), trang 38

¨ HÃY SỐNG VỚI NHỮNG GÌ MÌNH THẬT CÓ (Đào Văn Bình), trang 39

¨ GẶP LẠI (thơ Mặc Phương Tử), trang 41

¨ FACTS AND VIEWS (translated by Nguyên Túc), trang 44

¨ STORY OF BHIKKHUS WHO LIVED ON THE BANK... (Daw Tin), trang 45

¨ CON SẼ TRỞ VỀ (thơ TN Giới Định), trang 46

¨ BÀI THƠ TRONG VIỆN DƯỠNG LÃO (TM. Ngô Tằng Giao) trang 47

¨ VU LAN NỖI NHỚ (thơ Thục Uyên), trang 49

¨ VĂN HÓA VÀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG BỊ TIÊU DIỆT NHƯ THẾ NÀO? (Huỳnh Kim Quang), trang 50

¨ VU LAN NHỚ MẸ (thơ Đồng Thiện), trang 54

¨ NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN (Bùi Thanh Xuân), trang 55

¨ KHÚC NGẮN ĐÊM DÀI, MẸ VỀ (thơ Quảng Tánh Trần Cầm), trang 57

¨ SỰ TIÊU HÓA THỨC ĂN (Bs. Nguyễn Ý Đức), trang 58

¨ GIÁ CÒN CÓ THỂ (thơ Hiền Nguyễn), trang 61

¨ NHỮNG NGƯỜI CON GÁI PHẬT (Tiểu Lục Thần Phong), trang 62

¨ TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N.), trang 64

¨ TÁM ĐIỀU KHẮC CỐT GHI TÂM (Tâm Lương Đào Mạnh Xuân), trang 66

¨ NIỆM KHÚC TIỄN NGƯỜI ĐI, XUẤT GIA GIEO DUYÊN (thơ Tuệ Nha), trang 69

¨ THẦY VẪN THIỀN MỌI ĐÊM (Du Tâm Lãng Tử), trang 70

¨ BỐN CON RỐI (Truyện cổ Phật giáo), trang 73

¨ ẢO CẢNH THỰC TƯỚNG, HIỆU ỨNG ĐỜI... (thơ Phù Du), trang 74

¨ MẸ!!! (Nhuận Hùng), trang 75

¨ VẮNG BÓNG (thơ Diệu Viên), trang 80

¨ NÚI XANH MÂY HỒNG – chương 9, hết (Vĩnh Hảo), trang 81

¨ NẤU CHAY: CANH RONG BIỂN ĐẬU HŨ NON (Linh Đan) trang 88

http://www.chanhphap.us/CP%20published%20issues/2020/ChanhPhap%20106%20(09.2020).pdf

Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.